sinh viên việt nam hiện nay
Gần 100% lượng viên nén từ Việt Nam được xuất khẩu sang Nhật Bản và Hàn Quốc Thứ Sáu, 14/10/2022. VET online Chứng khoán đây là nguồn sinh khối rất đa dạng. Cụ thể, các nguyên liệu sản xuất viên nén hiện nay chủ yếu từ: phế phụ phẩm của ngành chế biến gỗ
Thực trạng việc làm hiện nay của sinh viên Sinh viên được coi là lực lượng lao động lành mạnh, dù có kiến thức hay sức khỏe tốt nên có thể tham gia vào bất kỳ ngành nghề phù hợp nào. Hiện nay, rất nhiều sinh viên đang tìm kiếm công việc làm thêm vì nhiều lý do khác nhau cho thấy thực trạng việc làm thêm của sinh viên hiện nay rất cao.
Việc phát triển đảng viên trong thanh niên sinh viên ở các trường đại học, cao đẳng nhằm bổ sung nguồn nhân lực trí tuệ, là nguồn cán bộ chuyên môn có trình độ cao được đào tạo căn bản cho Đảng - đây là một đòi hỏi khách quan và bức thiết trong giai đoạn hiện nay.
Tối nay (5/1), tại Hà Nội, T.Ư Hội SVVN tổ chức Chương trình kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống học sinh, sinh viên và Hội Sinh viên Việt Nam. Tại chương trình, T.Ư Hội SVVN sẽ tuyên dương 269 sinh viên đạt danh hiệu "Sinh viên 5 tốt" cấp T.Ư, 33 "Tập thể Sinh viên 5 tốt" cấp T.Ư, 100 sinh viên đạt giải thưởng "Sao Tháng Giêng" cấp T.Ư, năm 2019.
Sinh viên Việt Nam hiện nay là một bộ phận thanh niên đã được tuyển chọn qua các kỳ thi quốc gia và được đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng. Họ là lớp người đang trưởng thành, đang chuẩn bị hành trang nghề nghiệp cần thiết và chín muồi về nhân cách.
Site De Rencontre Pour Mariage International Gratuit. Sinh viên SV trước hết mang đầy đủ những đặc điểm chung của con người, mà theo Mác là "tổng hòa của các quan hệ xã hội". Nhưng họ còn mang những đặc điểm riêng Tuổi đời còn trẻ, thường từ 18 đến 25 dễ thay đổi, chưa định hình rõ rệt về nhân cách, ưa các hoạt động giao tiếp, có tri thức đang được đào tạo chuyên môn. Sinh viên vì thế dễ tiếp thu cái mới, thích cái mới, thích sự tìm tòi và sáng tạo. Đây cũng là tầng lớp xưa nay vẫn khá nhạy cảm với các vấn đề chính trị- xã hội, đôi khi cực đoan nếu không được định hướng tốt. Một đặc điểm rất đáng chú ý đang xuất hiện trong những người trẻ hôm nay, liên quan đến sự phát triển của công nghệ thông tin với tư cách là một cuộc cách mạng, đó là sự hình thành một môi trường ảo, hình thành một lối sống ảo. Đặc điểm này chỉ biểu hiện trong giới trẻ, đặc biệt những người có tri thức như SV. Hình thành một phương pháp tư duy của thời đại công nghệ thông tin Ngôn ngữ ngắn gọn, viết bằng bàn phím thay vì cây bút, có tính lắp ghép chính xác, hệ thống, hạn chế sự bay bổng về mặt hình tượng trực quan. Con người vì thế sống trong một môi trường ảo, và cái hiện thực ở đây là cái hiện thực ảo, giao tiếp ảo. Về môi trường sống, SV thường theo học tập trung tại các trường ĐH và CĐ thường ở các đô thị, sinh hoạt trong một cộng đồng trường, lớp gồm chủ yếu là những thành viên tương đối đồng nhất về tri thức, lứa tuổi, với những quan hệ có tính chất bạn bè khá gần gũi. Đối với SV nước ta, một thực tế là trong số họ hiện nay đang diễn ra quá trình phân hóa, với hai nguyên nhân cơ bản Tác động của cơ chế thị trường dẫn đến khác biệt giàu nghèo; sự mở rộng quy mô đào tạo khiến trình độ SV chênh lệch lớn ngay từ đầu vào. Dù vậy, vẫn có thể nhìn thấy trong đó những đặc điểm tương đồng dưới đây. Tính thực tế Thể hiện ở việc chọn ngành chọn nghề, ở việc hướng đến lựa chọn những kiến thức để học sao cho đáp ứng nhu cầu thực tế, chuẩn bị kinh nghiệm làm việc cho tương lai, định hướng công việc sau khi ra trường, thích những công việc đem lại thu nhập cao, v. V.. Nói chung là tính mục đích trong hành động và suy nghĩ rất rõ. Tính năng động Nhiều SV vừa đi học vừa đi làm làm thêm bán thời gian, hoặc có khi là thành viên chính thức của một cơ quan, công ty, hình thành tư duy kinh tế trong thế hệ mới thích kinh doanh, muốn tự mình lập công ty ngay khi đang còn là SV, thể hiện sự tích cực chủ động tham gia phong trào tình nguyện. Nhiều SV cùng một lúc học hai trường. Tính cụ thể của lý tưởng Đang có một sự thay đổi trong lý tưởng sống gắn liền với sự định hướng cụ thể. Một câu hỏi vẫn thường được đặt ra là SV hôm nay sống có lý tưởng không, lý tưởng ấy là gì, có sự phù hợp giữa lý tưởng của cá nhân và lý tưởng của dân tộc, của nhân loại không. Có thể khẳng định lŕ có, nhưng đang xuất hiện những đặc điểm lý tưởng có tính thế hệ, lý tưởng gắn liền với bối cảnh đất nước và quốc tế rất cụ thể. Lý tưởng hôm nay không phải là sự lựa chọn những mục đích xa xôi, mà hướng đến những mục tiêu cụ thể, gắn liền với lợi ích cá nhân. Tính liên kết - tính nhóm Những người trẻ luôn có xu hướng mở rộng các mối quan hệ, đặc biệt là những quan hệ đồng đẳng, cùng nhóm. Các nghiên cứu của hai nhà xã hội học người Pháp về bản sắc xã hội dưới góc độ nhóm là Taspen và Turnez, đã đưa đến kết luận Tính nhóm phụ thuộc vào môi trường xã hội xung quanh chúng ta đang sống. Sự thay đổi của đời sống tinh thần trong SV trước xu hướng toàn cầu hóa cả mặt thuận lợi và hạn chế của xu hướng này đang hướng mạnh đến tính cộng đồng. Tính cá nhân Trào lưu dân chủ hóa, làn sóng công nghệ thông tin và việc nâng cao dân trí đã làm ý thức cá nhân ngày càng rõ, đặc biệt rõ trong những người trẻ có học vấn là SV. Họ tự ý thức cao về bản thân mình và muốn thể hiện vai trò cá nhân. Dường như có sự đề cao lợi ích hơn nghĩa vụ cá nhân. Sự hy sinh và quan tâm đến người khác thấp đi, và nếu có thì đánh giá dưới góc độ kinh tế thực dụng hơn là tình cảm và sự chia sẻ. Xuất hiện thái độ bàng quan với xung quanh ở một bộ phận SV. Sự phân tách các đặc điểm trên chỉ có tính tương đối để phục vụ công tác nghiên cứu, còn trên thực tế các đặc điểm ấy đan xen và có tác động qua lại lẫn nhau. Tính cá nhân không tách rời tính liên kết, tính năng động gắn liền với tính thực tế. Mỗi đặc điểm, qua những biểu hiện cụ thể của nó, luôn bộc lộ tính hai mặt Vừa có những tác động tích cực, vừa có những tác động tiêu cực. Vai trò của sinh viên trong đời sống xã hội Vai trò của SV trong bức tranh xã hội ngày càng được ghi nhận đậm nét. Trong Hiến chương nhân bản 2000 được 86 học giả và nhà hoạt động xã hội tên tuổi trên thế giới cùng ký tên, đã nhận xét "Hiến chương nhân bản II được công bố năm 1973 để ứng xử các vấn đề phát sinh trên hiện trường thế giới kể từ đó Sự trỗi dậy của chủ nghĩa phát xít, chiến tranh lạnh.. và sự xuất hiện của sức mạnh SV trong các trường đại học". Sinh viên Việt Nam là những trí thức tương lai của đất nước, không ai hết mà chính họ sẽ là những người đóng vai trò chủ chốt trong công cuộc CNH, HĐH đất nước. Thế kỷ XXI là thế kỷ của văn minh trí tuệ, của sự phát triển KHKT, nên rất cần có những con người trẻ tuổi, có trình độ và năng lực sáng tạo cao, có khả năng tiếp nhận cái mới rất nhanh và biết thay đổi linh hoạt, thích nghi kịp thời với sự thay đổi nhanh chóng của xã hội hiện đại, đại diện cho một thế hệ tiên tiến mới. Hồ Chí Minh trong "Thư gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết Nguyên đán 1946" đã viết "Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội". Và Người căn dặn "Thanh niên sẽ làm chủ nước nhà. Phải học tập mãi, tiến bộ mãi, mới thật là thanh niên". Trong hai cuộc viếng thăm chính thức Việt Nam của hai nguyên thủ quốc gia từ hai cường quốc Tổng thống Mỹ Bill Clinton chiều 17-11-2000 và Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Giang Trạch Dân sáng 28-2-2002, cả hai đều chọn Đại học Quốc gia Hà Nội để đến thăm và đọc bài phát biểu trước SV. Lý do, như ông Clinton cho biết, SV là tương lai, và chúng ta cần nhìn về tương lai. Còn Chủ tịch Giang Trạch Dân trong bài phát biểu tại cuộc gặp cũng có ý kiến tương tự "Tương lai tươi đẹp cần thanh niên tạo ra. Tương lai thuộc về thanh niên". Thủ tướng Hàn Quốc Lee Han Dong trong chuyến thăm chính thức Việt Nam cũng đến thăm SV Đại học Quốc gia Hà Nội chiều 10- 4-2002. Ông nói "Nhìn hình ảnh các bạn SV tươi trẻ tràn đầy sức sống, tôi lại nhớ thời SV của tôi cách đây 40 năm, ngay khi chiến tranh vừa kết thúc. Lúc đó chúng tôi học với mục đích rõ ràng Tái thiết đất nước. Nếu cho rằng thế hệ trước của các bạn đã trả bằng máu, mồ hôi và nước mắt vì triết lý" Không có gì quý hơn độc lập tự do "thì nay các bạn phải nỗ lực nhằm mục tiêu" Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh ". Chủ tịch Phidel Castro Ruz Cuba, trong chuyến thăm Việt Nam đã có cuộc gặp và nói chuyện với SV trường Đại học Bách khoa Hà Nội 3-2003. Thủ tướng Đức Gerhard Schroeder trong chuyến thăm nước ta một ngày 15- 5- 2003 cũng dành thời gian gặp gỡ với SV trường này. GS. TS. Người Mỹ Joseph Stiglitz, người đoạt giải Nobel kinh tế năm 2001 vì những cống hiến xuất sắc trong nghiên cứu khoa học về quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường ở các nước đang phát triển, trong chuyến thăm và làm việc tại nước ta cuối tháng 6- 2001 cũng đã nhận xét về thế hệ trẻ ở các nước đang phát triển" Môi trường mới đòi hỏi tư duy phải đổi mới nhanh nhạy để phù hợp, và giới trẻ thích nghi dễ dàng hơn so với người già. "Chính họ đã đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành một tư duy kinh tế mới". Tuổi trẻ là nền tảng cho một đời người. Với SV, những người ngồi trên ghế giảng đường đại học là quãng thời gian vô cùng quan trọng trong quá trình lâu dài tích lũy kiến thức, kinh nghiệm, phương pháp tư duy và bản lĩnh chính trị. Từ điểm xuất phát này, con người trưởng thành và bước vào đời. Nếu điểm xuất phát tốt, họ sẽ đạt được những bước đi dài, ổn định và vững chắc trong tương lai; ngược lại, con đường đi lên sẽ gặp trắc trở khó khăn. Một đất nước Việt Nam có phồn vinh và vững mạnh trong tương lai hay không là phụ thuộc phần lớn vào thế hệ trẻ sau này, trong đó có sinh viên. Admin và Liberty thích bài này. Last edited by a moderator 14 Tháng sáu 2019 sinh viên
Bài viết dưới đây là bài viết tổng hợp về tất cả kiến thức đánh giá về sinh viên việt nam hay nhất mà chính đội ngũ chúng tôi biên soạn ra và tổng hợp được Danh sách tổng hợp top 20 sinh viên việt nam mà bạn cần quan tâm đếnTop 1. Sinh viên Việt Nam Báo điện tử Tiền PhongTop 2. Hội Sinh viên Việt Nam tại Adelaide – VISA FacebookTop 3. Thanh niên, Sinh viên Việt Nam tại Hoa Kỳ – Anh em một nhà, sức …Top 4. Thanh niên Sinh viên Việt Nam tại Hoa Kỳ – Home FacebookTop 5. Hội Sinh viên Việt NamTop 6. Sinh viên Việt Nam – Tin tức cập nhật mới nhất tại …Top 7. Sinh Viên Việt Nam – Ứng dụng trên Google PlayTop 8. Các chương trình nổi bật cho các sinh viên từ Việt namTop 9. Premium dành cho Sinh viên – Spotify VNTop 10. Sinh Viên Việt Nam Và Người Việt Nam Làm Việc Chuyên Môn Tại …Top 11. Vì sao sinh viên Việt Nam không thể biểu tình như sinh viên Hong …Top 12. Hội sinh viên Việt Nam tại Hawaii, Hoa Kỳ đón Tết Đinh Dậu 2017Top 13. 71 năm ngày truyền thống Học sinh, sinh viên và Hội Sinh viên Việt …Top 14. Olympic Tin học Sinh Viên VNTop 15. Sáng Ngời Sinh Viên Việt Nam – CKT – NhacCuaTuiTop 16. UEVP – Hội sinh viên Việt Nam tại Paris – Photos FacebookTop 17. Hội Sinh viên Việt NamTop 18. Hành Khúc Sinh Viên Việt Nam – Quốc Đại,Hương Giang – 19. Việt Nam có bao nhiêu người học Đại học Havard?Top 20. Sinh viên Việt Nam tại Ukraine hiện đều được an toàn Danh sách tổng hợp top 20 sinh viên việt nam mà bạn cần quan tâm đến Top 1. Sinh viên Việt Nam Báo điện tử Tiền Phong Thông tin tác giả Ngày đăng 2021-02-23 Xếp hạng 5 ⭐ 692 lượt đánh giá Xếp hạng cao nhất 5 ⭐ Xếp hạng thấp nhất 1 ⭐ Tóm tắt nội dung Ư Hội Sinh viên Việt Nam khẳng định Công tác đào tạo bồi dưỡng nhân lực, mà trọng tâm là trong môi trường học đường cần đảm bảo không chỉ về sự phát triển …. Xem Chi Tiết Top 2. Hội Sinh viên Việt Nam tại Adelaide – VISA Facebook Thông tin tác giả Ngày đăng 2021-12-20 Xếp hạng 5 ⭐ 699 lượt đánh giá Xếp hạng cao nhất 5 ⭐ Xếp hạng thấp nhất 2 ⭐ Tóm tắt nội dung Hội sinh viên Việt Nam tại Adelaide – Vietnamese International Students of Adelaide VISA 1. ABOUT US Đây là Group phi lợi nhuận được thành lập với mục…. Xem Chi Tiết Top 3. Thanh niên, Sinh viên Việt Nam tại Hoa Kỳ – Anh em một nhà, sức … Thông tin tác giả Ngày đăng 2021-09-11 Xếp hạng 5 ⭐ 618 lượt đánh giá Xếp hạng cao nhất 4 ⭐ Xếp hạng thấp nhất 1 ⭐ Tóm tắt nội dung Nước Mỹ lần đầu xuất hiện trong tâm thức của tôi khi lần đầu đọc cuốn “Anh có thích nước… Sinh viên USA …. Xem Chi Tiết Top 4. Thanh niên Sinh viên Việt Nam tại Hoa Kỳ – Home Facebook Thông tin tác giả Ngày đăng 2021-07-04 Xếp hạng 5 ⭐ 104 lượt đánh giá Xếp hạng cao nhất 5 ⭐ Xếp hạng thấp nhất 3 ⭐ Tóm tắt nội dung Thanh niên Sinh viên Việt Nam tại Hoa Kỳ, Boston, Massachusetts. 32166 likes 1539 talking about this 14 were here. Trang Facebook chính thức của…. Xem Chi Tiết Top 5. Hội Sinh viên Việt Nam Thông tin tác giả Ngày đăng 2022-02-03 Xếp hạng 5 ⭐ 330 lượt đánh giá Xếp hạng cao nhất 4 ⭐ Xếp hạng thấp nhất 2 ⭐ Tóm tắt nội dung Giải bóng đá sinh viên tỉnh Bắc Ninh lần thứ V, năm 2022 nhằm tạo điều kiện cho sinh viên đang học tập tại các trường ĐH, CĐ trên địa bàn tỉnh giao lưu, trao …. Xem Chi Tiết Top 6. Sinh viên Việt Nam – Tin tức cập nhật mới nhất tại … Thông tin tác giả Ngày đăng 2021-11-19 Xếp hạng 5 ⭐ 200 lượt đánh giá Xếp hạng cao nhất 4 ⭐ Xếp hạng thấp nhất 1 ⭐ Tóm tắt nội dung Sinh vien Viet Nam – Tổng hợp bài viết cập nhật tin tức, bài viết, video mới nhất về Sinh viên Việt Nam trên Chúc bạn có được thông tin hữu …. Xem Chi Tiết Top 7. Sinh Viên Việt Nam – Ứng dụng trên Google Play Thông tin tác giả Ngày đăng 2021-07-16 Xếp hạng 5 ⭐ 215 lượt đánh giá Xếp hạng cao nhất 4 ⭐ Xếp hạng thấp nhất 3 ⭐ Tóm tắt nội dung Ứng dụng Sinh Viên Việt Nam giúp Sinh viên có thể đăng ký tham gia các hoạt động của Hội Sinh viên Việt Nam một cách nhanh chóng và quản lý hồ sơ sinh viên …. Xem Chi Tiết Top 8. Các chương trình nổi bật cho các sinh viên từ Việt nam Thông tin tác giả Ngày đăng 2021-11-25 Xếp hạng 5 ⭐ 245 lượt đánh giá Xếp hạng cao nhất 5 ⭐ Xếp hạng thấp nhất 2 ⭐ Tóm tắt nội dung Sinh viên Việt nam có thể được theo học các chương trình đẳng cấp thế … Tại sao nhiều du học sinh Việt Nam và gia đình lại chọn Canada làm nơi đến du học?. Xem Chi Tiết Top 9. Premium dành cho Sinh viên – Spotify VN Thông tin tác giả Ngày đăng 2021-07-28 Xếp hạng 5 ⭐ 445 lượt đánh giá Xếp hạng cao nhất 5 ⭐ Xếp hạng thấp nhất 2 ⭐ Tóm tắt nội dung Sinh viên dùng gói Premium miễn phí trong 1 tháng Nghe nhạc không quảng cáo, không giới hạn và tận hưởng nhiều lợi ích khác. Sau đó chỉ 29,500₫/tháng. Hủy bất …. Xem Chi Tiết Top 10. Sinh Viên Việt Nam Và Người Việt Nam Làm Việc Chuyên Môn Tại … Thông tin tác giả Ngày đăng 2021-04-30 Xếp hạng 5 ⭐ 486 lượt đánh giá Xếp hạng cao nhất 4 ⭐ Xếp hạng thấp nhất 3 ⭐ Tóm tắt nội dung Jan 19, 2022 … Với số lượng sinh viên và cựu sinh viên Việt Nam ở lại Đài Loan làm việc đang tăng dần trong các năm gần đây, VIN Taiwan hy vọng sẽ sớm kết nối …. Xem Chi Tiết Top 11. Vì sao sinh viên Việt Nam không thể biểu tình như sinh viên Hong … Thông tin tác giả Ngày đăng 2022-02-28 Xếp hạng 5 ⭐ 478 lượt đánh giá Xếp hạng cao nhất 5 ⭐ Xếp hạng thấp nhất 2 ⭐ Tóm tắt nội dung Jun 23, 2019 … Một trong những nhân tố giúp các cuộc biểu tình ở Hong Kong những năm qua được tổ chức khá thành công chính là sự tham gia của các hội nhóm học …. Xem Chi Tiết Top 12. Hội sinh viên Việt Nam tại Hawaii, Hoa Kỳ đón Tết Đinh Dậu 2017 Thông tin tác giả Ngày đăng 2021-04-21 Xếp hạng 5 ⭐ 539 lượt đánh giá Xếp hạng cao nhất 5 ⭐ Xếp hạng thấp nhất 2 ⭐ Tóm tắt nội dung Feb 9, 2017 … Ngày 28 tháng 01 năm 2017, Hội sinh viên Việt Nam tại Hawaii, Hoa Kỳ VSAH đã tổ chức Lễ hội mừng Tết cổ truyền Việt Nam với không khí sum …. Xem Chi Tiết Top 13. 71 năm ngày truyền thống Học sinh, sinh viên và Hội Sinh viên Việt … Thông tin tác giả Ngày đăng 2021-10-08 Xếp hạng 5 ⭐ 184 lượt đánh giá Xếp hạng cao nhất 5 ⭐ Xếp hạng thấp nhất 3 ⭐ Tóm tắt nội dung Sep 1, 2021 … Ngày 09/01/1950, Đoàn thanh niên Cứu Quốc và Đoàn học sinh, sinh viên Sài Gòn – Gia Định – Chợ Lớn đã tổ chức vận động trên nhân dân, …. Xem Chi Tiết Top 14. Olympic Tin học Sinh Viên VN Thông tin tác giả Ngày đăng 2021-09-18 Xếp hạng 5 ⭐ 587 lượt đánh giá Xếp hạng cao nhất 4 ⭐ Xếp hạng thấp nhất 3 ⭐ Tóm tắt nội dung Olympic Tin học Sinh viên Việt Nam OLP là sáng kiến của Hội Tin học Việt Nam, Hội Sinh viên Việt Nam và Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm động viên phong trào …. Xem Chi Tiết Top 15. Sáng Ngời Sinh Viên Việt Nam – CKT – NhacCuaTui Thông tin tác giả Ngày đăng 2021-11-20 Xếp hạng 5 ⭐ 167 lượt đánh giá Xếp hạng cao nhất 5 ⭐ Xếp hạng thấp nhất 1 ⭐ Tóm tắt nội dung Tìm loi bai hat sang ngoi sinh vien viet nam – Ckt ngay trên Nhaccuatui. Nghe bài hát Sáng Ngời Sinh Viên Việt Nam chất lượng cao 320 kbps lossless miễn phí …. Xem Chi Tiết Top 16. UEVP – Hội sinh viên Việt Nam tại Paris – Photos Facebook Thông tin tác giả Ngày đăng 2021-06-14 Xếp hạng 5 ⭐ 684 lượt đánh giá Xếp hạng cao nhất 5 ⭐ Xếp hạng thấp nhất 3 ⭐ Tóm tắt nội dung UEVP – Hội sinh viên Việt Nam tại Paris, Paris. 13799 likes 8 talking about this. Trang thông tin chính thức của Hội sinh viên Việt Nam tại Paris La…. Xem Chi Tiết Top 17. Hội Sinh viên Việt Nam Thông tin tác giả Ngày đăng 2022-04-16 Xếp hạng 5 ⭐ 83 lượt đánh giá Xếp hạng cao nhất 5 ⭐ Xếp hạng thấp nhất 2 ⭐ Tóm tắt nội dung Giải bóng đá sinh viên tỉnh Bắc Ninh lần thứ V, năm 2022 nhằm tạo điều kiện cho sinh viên đang học t… Phát động cuộc thi sinh viên …. Xem Chi Tiết Top 18. Hành Khúc Sinh Viên Việt Nam – Quốc Đại,Hương Giang – Thông tin tác giả Ngày đăng 2021-01-21 Xếp hạng 5 ⭐ 339 lượt đánh giá Xếp hạng cao nhất 4 ⭐ Xếp hạng thấp nhất 2 ⭐ Tóm tắt nội dung … Viên Việt Nam – Quốc Đại,Hương Giang chất lượng cao cực nhanh. Tải Hành Khúc Sinh Viên Việt Nam mp3, lyrics, hợp âm, karaoke online miễn phí tại Xem Chi Tiết Top 19. Việt Nam có bao nhiêu người học Đại học Havard? Thông tin tác giả Ngày đăng 2021-09-15 Xếp hạng 5 ⭐ 537 lượt đánh giá Xếp hạng cao nhất 4 ⭐ Xếp hạng thấp nhất 2 ⭐ Tóm tắt nội dung Tôn Hà Anh 24 tuổi hiện là sinh viên năm cuối ngành Kinh tế, Đại học Harvard. 5 năm trước, cựu học sinh lớp chuyên Anh trường THPT chuyên Hà Nội – Amsterdam …. Xem Chi Tiết Top 20. Sinh viên Việt Nam tại Ukraine hiện đều được an toàn Thông tin tác giả Ngày đăng 2021-02-09 Xếp hạng 5 ⭐ 598 lượt đánh giá Xếp hạng cao nhất 4 ⭐ Xếp hạng thấp nhất 1 ⭐ Tóm tắt nội dung Feb 28, 2022 … Nhưng hôm qua một số bạn bắt đầu có tâm lý lo lắng. Sáng nay có 3 sinh viên đại học đang sống trong hầm trú ẩn ở Odessa đề nghị …. Xem Chi Tiết
Lượt xem ĐẶNG THỊ TUYẾT 1 1 Viện Văn hoá và Phát triển, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh TÓM TẮT Sinh viên SV đại diện cho lực lượng lao động tương lai của đất nước, tiềm lực, trí tuệ, trí lực của họ quyết định sự phát triển của đất nước cả trong tương lai gần và xa. SV là tầng lớp có tri thức, có sức trẻ, năng động, sáng tạo, nhanh nhạy, dễ nắm bắt, tiếp thu cái mới, cái tích cực, phân biệt được cái tiêu cực, bảo thủ,… Vì thế, có thể khẳng định SV là tầng lớp xã hội mà ở đó tiếp nhận và hội nhập văn hoá, lựa chọn các loại hình văn hoá đại chúng VHĐC được thể hiện rõ ràng, đầy đủ nhất. Nếu được trang bị một phông văn hoá tốt, họ sẽ biết lựa chọn những sản phẩm VHĐC phù hợp, tiếp cận được tinh hoa văn hoá nhân loại mà vẫn giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc. Từ khóa Sinh viên, tiếp nhận, văn hóa đại chúng. Phân loại ngành Văn hóa học. ABSTRACT Abstract Students represent the future workforce of the country, with their potential, intellect, and intelligence determining the country’s development both in the near and far future. Students are knowledgeable, with vitality, dynamism, creativity, and awareness to new things, easily grasping and absorbing new and positive things, and distinguishing them with the negative ones and those not wanting renovation. Therefore, it is possible to assert that students are the social stratum where the reception and integration of culture, and the selection of types of popular culture, are demonstrated most clearly and fully. If equipped with a good cultural background, they will know how to choose the appropriate popular cultural products, approaching the quintessence of the culture of humanity while preserving and bringing into play the national identity. Keywords Students, reception, popular culture. Subject classification Cultural studies. x x x 1. Đặt vấn đề Sau hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã có sự “thay da đổi thịt” lớn, đặc biệt là về kinh tế. Bước chuyển về kinh tế đã tạo đà cho sự thay đổi về văn hoá, xã hội. Sự biến đổi về thang đo giá trị trong xã hội, sự thay đổi trong lối sống, thói quen, hành vi của người dân đã dần tiệm cận với những giá trị chung toàn cầu, nhất là trong giới trẻ. Những hiện tượng nảy sinh qua âm nhạc, thời trang, và lối sống cho thấy một lớp văn hoá mới – văn hoá giới trẻ – đã ra đời, hoàn toàn phù hợp với những biến đổi về cơ cấu kinh tế, xã hội của đất nước trong thời đại mới. Có thể thấy trong những năm qua, đời sống văn hoá người dân có nhiều chuyển biến tích cực và sôi động hơn, người dân và doanh nghiệp được tham gia sáng tạo và thụ hưởng. Hệ thống rạp chiếu phim, nhà hát… được làm mới, phát triển thêm theo hướng hiện đại để chiều lòng du khách. Các tuần lễ văn hoá Pháp, tuần lễ văn hoá Đức, tuần lễ văn hoá Ấn Độ, tuần lễ văn hoá Nhật Bản… thường xuyên được tổ chức. Bên cạnh các buổi quảng bá, giới thiệu nền điện ảnh, âm nhạc, các tuần lễ văn hoá này còn giới thiệu về Nm thực, về thời trang đất nước mình. Các ngày hội văn hoá của các quốc gia cũng thường được tổ chức ở Hà Nội, như Lễ hội Hoa anh đào Nhật Bản, Lễ hội hoa hồng Bungari. Các ngày lễ của nước ngoài như lễ Halloween, Valentine, Cosplay… đã trở thành sinh hoạt giải trí thường xuyên của SV. Đây là dịp giao lưu, gặp gỡ bạn bè, là dịp để họ được chơi, được hòa vào nhịp sống văn hóa đương đại. Tham gia các lễ hội cũng là cách để SV thể hiện và chia sẻ các giá trị cá nhân của mình với cộng đồng xã hội. Nhiều tổ chức SV qua các lễ hội, đề cao tính tự lập, tự chủ, đưa ra nhiều thông điệp về nghĩa cử nhân văn, bảo vệ môi trường, chung tay vì cộng đồng. Nếu nhìn ở khía cạnh tích cực, lễ hội thực sự là nơi trao gửi và giao lưu không chỉ văn hoá, mà còn là nơi nuôi dưỡng, trao gửi tình yêu thương. Đó thực sự là một sân chơi lành mạnh, bổ ích và giá trị cho các bạn SV bởi nó tạo môi trường giao lưu văn hóa, nâng cao sự hiểu biết, hòa nhập của SV với các nền văn hóa trên thế giới. Sự tích cực, chủ động tiếp nhận VHĐC của SV chính một phần nhờ vào bối cảnh kinh tế xã hội đặc thù của đất nước trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hoá. Trong quá trình toàn cầu hóa văn hóa, những đỉnh cao tiến bộ của nhân loại sẽ có sự gặp gỡ, được lan truyền và nhân rộng. Từ đó xác lập, phổ biến những giá trị và chuẩn mực mang tính nhất thể hóa ở phạm vi toàn cầu trên cơ sở đối thoại văn hóa. Bên cạnh đó, sự phát triển của ngành công nghiệp văn hoá CNVH đáp ứng nhu cầu văn hóa đa dạng và phức tạp của xã hội, đặc biệt là đối với SV. Nó góp phần tạo nên quá trình đa dạng hóa và dân chủ hóa về tri thức cho xã hội, đáp ứng một cách dễ dàng, sẵn có, thông qua việc tiêu dùng những sản phẩm VHĐC. Là ngành nghề sản xuất các sản phẩm văn hóa và cung cấp dịch vụ văn hóa, CNVH lấy sự hài lòng, thỏa mãn nhu cầu văn hóa của mọi người làm mục tiêu chủ yếu. Không những thế, CNVH còn biến mỗi cá nhân thụ hưởng văn hoá trở thành những nhà sản xuất như Paul Willi 1990 cho rằng “Những quá trình của sự hàng hoá hoá làm cơ sở cho “một nền văn hoá chung” trong việc tiêu dùng những thực hành của người trẻ tuổi… Nền văn hoá đương đại không phải là một bề mặt vô nghĩa hay hời hợt mà nó kéo theo sự sáng tạo ý nghĩa tích cực bởi tất cả mọi người với tư cách là những nhà sản xuất văn hoá” [1]. Sự ngập tràn thông tin từ các dạng văn hóa truyền thông, truyền hình giải trí, quảng cáo khuếch trương hình ảnh các tập đoàn đa quốc gia hàng ngày đang tác động đến thói quen hưởng thụ văn hóa và lối sống SV. Hiện nay, sự phát triển của ngành CNVH mang lại nhiều cơ hội để SV tiếp nhận các sản phẩm VHĐC. Nó cũng mang lại những hiệu ích quan trọng trong việc phổ biến VHĐC đến với một đối tượng tiếp nhận đa dạng, năng động và ưa khám phá, sáng tạo như SV. Qua việc tiếp nhận VHĐC, SV đã tích lũy, tiếp thu được tinh hoa văn hóa nhân loại, biết khát vọng, sống nhân văn hơn và cũng biết trân trọng hơn tinh hoa văn hóa dân tộc. Bài viết phân tích phương thức và các giải pháp nâng cao khả năng tiếp nhận VHĐC của sinh viên Việt Nam hiện nay. 2. Phương thức tiếp nhận văn hóa đại chúng của sinh viên Việt Nam Ở Việt Nam hiện nay, Internet có vai trò thiết yếu đối với thế hệ 9x,10x. Thế hệ này đã trở thành những con người lớn lên trọn vẹn trong không gian số, hay còn gọi là những “digital native”. Năm 2001, Mark Prensky đã đưa ra khái niệm “digital native” chỉ những người cuộc đời họ vây xung quanh bởi sử dụng máy tính, trò chơi điện tử, nhạc số, video, điện thoại di động và tất cả những vật phẩm sinh ra từ thời đại kỹ thuật số và có vô số cách hành xử khác nhau. Những “digital native” đã phát triển những biểu hiện về mặt tâm lý vô cùng mới so với những thế hệ trước. Công nghệ và truyền thông đang giữ vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động giải trí. “Dường như chẳng có gì có thể kiếm được dễ dàng cho bản sắc dân tộc hoặc tôn giáo, lòng yêu nước. Và bởi vì những điều hấp dẫn này lại được phóng đại lên hoặc được truyền bá bởi một hệ thống các phương tiện truyền thông hoàn hảo nhắm tới một nền VHĐC, cho nên chúng đã gây nên hiệu quả rất dễ nhận thấy” [2, Nhờ sự phát triển của công nghệ, truyền thông, sản phẩm VHĐC trở nên dễ tiếp cận hơn, rẻ hơn, thậm chí nó làm được quá nhiều điều kì diệu giúp con người thoả mãn bất kì giấc mơ giải trí nào. Trong điện ảnh đó là kĩ xảo 3D, 4D, 5D, 6D, giúp con người chinh phục nhiều tác phẩm phim bom tấn đạt độ chính xác cao và chân thật, sống động. Công nghệ cũng giúp ngành công nghiệp thời trang bước sang một trang mới với việc xử lí chất liệu, quảng bá thương hiệu. Trong âm nhạc, ngay cả với những nghệ sĩ đã qua đời cũng vẫn đều đặn kiếm ra tiền. Công nghệ “Hologram” đã dựng lại hình ảnh ba chiều điệu nhảy moonwalk của Micheal Jackson tại lễ trao giải Billboard 2014. Không chỉ làm sống lại những người đã chết, các kế hoạch liên quan đến “Hologram” còn là dựng lại hình ảnh thời trẻ, ví dụ một Madonna ở tuổi 27 trên sân khấu. Và dường như sự phát triển của công nghệ để dành riêng cho đối tượng làm chủ được công nghệ và đam mê khám phá như SV. Truyền thông đại chúng không chỉ có tác động định hướng lối sống mà còn định hướng về hệ giá trị, quan niệm về bản thân, về xã hội, về văn hoá tiêu dùng. Truyền thông đại chúng làm cho các sản phẩm không chỉ có ý nghĩa tiêu dùng, mà còn có ý nghĩa như biểu tượng văn hoá, thông qua chúng, nhân cách cá nhân được khẳng định. Truyền thông đại chúng định hình VHĐC. Tác động của truyền thông đại chúng đến VHĐC là sự nổi lên của “nền văn hoá gắn với công nghệ mới”, mà có thể kể ra các thể loại thành viên của nó như các fan hâm mộ The Beatles, các hippies ở những thập niên 50, 60 của thế kỉ trước, hay những kẻ “nghiện games” “nghiện mạng”, hoặc những cộng đồng “thờ phụng” công nghệ cao… ngày nay. Nhờ sự phát triển của truyền thông, SV tiếp cận VHĐC dễ dàng hơn, tiện ích hơn, cập nhật, đa dạng và rẻ hơn. Phương thức tiếp nhận VHĐC của SV hầu hết là từ Internet và mạng xã hội. SV có nhiều sự chọn lựa VHĐC phù hợp với điều kiện cá nhân. Không những thế, công nghệ và truyền thông giúp SV tương tác, bày tỏ quan điểm cá nhân cũng như có thể đồng thời là những nhà sáng tạo, sản xuất các sản phẩm VHĐC. Sự chủ động, thích khám phá các yếu tố mới lạ là một đặc trưng tiêu biểu của tâm lý SV. Trong bối cảnh hiện nay, SV quan tâm hơn tới những yếu tố mới lạ, trẻ trung của VHĐC. Quá trình tiếp nhận VHĐC ảnh hưởng mạnh đến hành vi ứng xử trong quan hệ bạn bè của SV. Đó là xu hướng rộng mở hơn và có nhiều dấu hiệu về các hình thức kết bạn, tạo dựng mối quan hệ lậu dài. SV thích kết giao để học hỏi, cũng là cách qua đó họ định hướng cho sự phát triển của chính mình. Trong gia đình, trong mối quan hệ với người thân, SV biết cách quan tâm, yêu thương và bộc lộ cảm xúc hơn. SV cho rằng ảnh hưởng tích cực của VHĐC ngoài việc giúp họ thư giãn, giải trí, tái tạo năng lượng cho cuộc sống, còn giúp họ có động lực học ngoại ngữ, giúp họ hoà nhập với bạn bè quốc tế, giúp họ có cơ hội đi du lịch nhiều hơn. Sản phẩm VHĐC cũng giúp SV nhìn cuộc sống nhân văn, nhẹ nhàng hơn, biết trân trọng những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Nhu cầu của SV thông qua văn hoá giới trẻ để khẳng định vai trò, vị trí của mình trong hệ thống chung của xã hội. Đó là môi trường để họ tìm tòi và định hình hướng đi, lối sống – hay còn gọi là bản sắc – cho riêng mình. Cũng chính vì thế, xã hội cần có cái nhìn cởi mở, rộng lượng hơn, và tôn trọng để giới trẻ được trải nghiệm, hình thành và xác lập thế giới của riêng mình. Trong bối cảnh hội nhập, lại làm chủ được công nghệ, SV có cơ hội trải nghiệm, cọ xát, thẩm thấu với văn hoá bên ngoài là đương nhiên. Cũng từ đó, họ đặt ra yêu cầu khác hơn về quyền được thụ hưởng các sản phẩm văn hoá phù hợp với mình. Đặc biệt, vì tự tìm hiểu mọi thứ trên mạng, nên tuy còn hơi sớm, nhưng đã có thể nhận xét là SV ngày càng giỏi trong việc tự nhận thức về bản thân, tự lực, độc lập, bản lĩnh, thích đổi mới và có mục tiêu rõ ràng. Các phương tiện truyền thông đại chúng mới như điện thoại, Internet đã tạo tiền đề thúc đẩy quá trình cá nhân hoá của SV trong xã hội, thể hiện rõ nét nhất ở các khía cạnh có vật sở hữu riêng, có thể thể hiện cá tính, tính cách riêng của mình trên những đồ vật, vật dụng ấy, có thể lựa chọn dịch vụ hoặc sản phẩm tuỳ theo mục đích của mình. Không gian mạng xã hội cùng với văn hoá tham gia giúp SV có cơ hội được đóng góp và thể hiện bản thân. Mạng xã hội với văn hoá tham gia giúp nhiều SV kết nối với nhau và tạo ra một cộng đồng gắn bó. Youtube mang đến một không gian văn hoá bình đẳng và tương đối đại chúng, xoá nhoà các ranh giới và khoảng cách. Không chỉ nỗ lực giải quyết các vấn đề cá nhân, SV còn bày tỏ những mối quan tâm với những sự kiện văn hoá, xã hội và chính trị. Nhờ đó, khả năng kết nối, khả năng lan toả của VHĐC ngày càng rộng mở. Công nghệ đã thay đổi cách SV tiếp nhận và nhận thức về thế giới. Sự phát triển của mạng xã hội, cùng các tính năng ngày càng mạnh mẽ của nó, đã hình thành ở SV một tâm thế chủ động và tự tin. SV thích chia sẻ, thích lên tiếng và mong muốn được lắng nghe. Khát khao thể hiện cái tôi thẳng thắn và mãnh liệt, SV không ngần ngại khi thể hiện chính kiến riêng, ngay cả khi đi ngược ý kiến của thế hệ trước, thậm chí tách biệt suy nghĩ số đông. Đặc biệt, việc tiếp cận thông tin trên mạng, SV ngày càng giỏi trong việc tự nhận thức về bản thân, tự lực, thích đổi mới và hướng tới mục tiêu. Họ cũng có nhiều đòi hỏi hơn cho sản phẩm hay dịch vụ. Bìa tạp chí Time số tháng 5/2013 từng đăng hình một thiếu nữ tuổi teen chụp ảnh tự sướng với dòng tiêu đề nổi tiếng và khá shock “Thế hệ của tôi, tôi, chính bản thân tôi”. SV thể hiện khả năng sáng tạo với nhân vật trung tâm là chính mình, chứ không cần thông qua một hình ảnh khác mang tính thông điệp và dấu ấn cá nhân. Chính vì thế, chưa bao giờ, tính chất nghệ thuật lại dự phần vào đời sống thường nhật rộng khắp như hiện nay. Mỗi SV, nếu muốn, đều có thể là một nghệ sĩ, thu hút sự chú ý, lắng nghe và theo dõi…Và đó là lí do sự tiếp nhận VHĐC trở nên vô cùng quan trọng, không chỉ cộng đồng dân tộc mà ở từng cá thể đơn lẻ. Có thể nói, nền tiểu văn hoá tuổi trẻ trên với sự xuất hiện của lớp công chúng mới năng động với những nhu cầu thẩm mĩ mới thực sự mang lại một bức tranh đầy màu sắc cho văn hoá đương đại. Với sự hỗ trợ của truyền thông, công chúng chủ động không chỉ là người thụ hưởng mà còn chủ động sáng tạo ra các sản phẩm văn hoá. Do đó, văn hoá từ chỗ là sản phẩm đặc quyền của tầng lớp tinh hoa, giờ đây hoà trộn trong đời sống thường nhật, với những con người bình thường, nhịp sống bình thường. Đó cũng là cách lan toả tầm ảnh hưởng của VHĐC tới SV một cách nhanh và hiệu quả nhất. Truyền thống dân tộc cùng những tiêu chí của thời đại khiến SV cởi mở hơn nhưng cũng cẩn trọng hơn trong việc tiếp nhận các yếu tố văn hoá bên ngoài, trong đó có VHĐC. Yêu thích khám phá cái mới, cái tiến bộ, nhân văn của thời đại để làm giàu vốn văn hoá dân tộc, vừa nằm trong tâm lý tiếp nhận của SV, vừa nằm trong xu thế chung của thời đại. Tuy vậy, những ma trận các sản phẩm VHĐC với sự hậu thuẫn của truyền thông cũng mang lại nhiều hệ luỵ. Đó là sự lệ thuộc vào truyền thông, bị truyền thông dẫn dắt. Nó dẫn đến một bộ phận SV tiếp nhận thụ động, dễ adua, bắt chước, sống với các giá trị ảo, thậm chí, ảnh hưởng không nhỏ tới hành vi và đạo đức của họ. Tình trạng phạm tội ngày càng trẻ và manh động hơn, xu hướng sống thực dụng, chạy theo vật chất, ích kỉ cá nhân đang ngày càng nhiều. 3. Giải pháp nâng cao khả năng tiếp nhận văn hóa đại chúng của sinh viên Giáo dục gia đình Hãy bắt đầu từ sự giáo dục trong gia đình, cái nôi văn hoá đầu tiên của SV. Gia đình có tác dụng giáo dục văn hoá, bảo lưu các giá trị văn hoá truyền thống. Vì thế, người ta thường ví gia đình là trường học đầu tiên và người mẹ là người thầy đầu tiên của đời người. Sự hình thành những chuẩn mực giá trị văn hoá tốt đẹp của gia đình không chỉ củng cố các mối quan hệ gia đình, mà còn tạo tiền đề quan trọng để mỗi cá nhân tiếp tục hoàn thiện giá trị nhân cách khi hoà nhập vào môi trường xã hội. Văn hoá gia đình chính là cái nôi, nơi tạo lập và tiếp thu văn hoá. “…mối liên kết giữa các thành viên trong gia đình giữ vai trò quan trọng đối với việc tiếp thu và sử dụng các thông điệp từ hệ thống truyền thông đại chúng vì những nhu cầu và lợi ích của họ. Họ có thái độ phê phán, nhiều khi gay gắt đối với việc quảng bá bạo lực và việc lạm dụng hình ảnh phụ nữ, trẻ em trong các chương trình phim, quảng cáo… vì mục đích thương mại. Điều ấy có nghĩa rằng, truyền thống văn hoá gia đình, nền tảng của gia phong rất có ý nghĩa trong tương tác giữa VHĐC và văn hoá gia đình” [6]. Có thể coi truyền thống văn hoá gia đình là một bộ phận hợp thành nền văn hoá dân tộc, với hệ thống những giá trị, chuẩn mực điều chỉnh hành vi và điều tiết mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình. Do đó, ông bà, cha mẹ phải làm gương cho con cháu về văn hoá, về đạo đức. Người Việt đã đúc kết “giỏ nhà ai, quai nhà nấy”, “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”, như một quy luật, một triết lý giáo dục văn hoá, đạo đức trong gia đình. Có thể nói, xã hội hiện đại với sự phân hoá lao động cao đã dẫn đến tình trạng nhiều phụ huynh phó mặc giáo dục con cái cho nhà trường. Kinh tế thị trường và sự tự do cạnh tranh lợi nhuận đã có thể đưa con người vượt ra ngoài những sự kìm toả của gia đình để tìm thấy một thứ hạnh phúc khác gắn liền với các điều kiện vật chất, sự sang giàu về tiền bạc, sự xoá bỏ các ràng buộc về huyết thống, thế hệ và giới tính… Do đó, cần phát huy sức mạnh của gia đình bởi chỉ khi được nuôi dưỡng trong một bầu không khí được tiếp nhận sức sống mãnh liệt của các giá trị truyền thống thì khi lớn lên, đến lượt mình, chính SV mới có đủ năng lực để tiếp tục lưu giữ và phát huy những giá trị đó cho thế hệ mai sau. Đồng thời, các bậc phụ huynh cũng cần cố gắng cập nhật về công nghệ, những xu hướng mới trong xã hội để có sự định hướng tốt hoặc đồng hành cùng con em, hướng họ đến những yếu tố tích cực, hiện đại, lên án phê phán những yếu tố tiêu cực. Tương lai không xa, việc SV xa lạ, đứt gãy với các giá trị truyền thống dân tộc không còn là nguy cơ. Do đó, xây dựng văn hoá gia đình trở nên vô cùng cần thiết để nâng cao hiệu quả giáo dục cho giới trẻ. Xây dựng môi trường văn hóa trong các trường đại học Nhà trường là nơi con người với con người thầy và trò cùng hoạt động chiếm lĩnh các mục tiêu văn hóa, theo những cách thức văn hóa, dựa trên những phương tiện văn hóa trong những môi trường văn hóa đặc thù. Nhà trường là nơi bảo tồn và lưu truyền các giá trị văn hóa nhân loại. Nhà trường cũng là nơi đào tạo, rèn luyện những lớp người mới – chủ nhân gìn giữ, sáng tạo văn hóa cho tương lai. Văn hóa học đường là môi trường để giáo dục và rèn luyện nhân cách con người, đặc biệt là thế hệ trẻ. Nếu môi trường học đường bị xuống cấp thì nhà trường không thực hiện được chức năng truyền tải tri thức, các giá trị, chuNn mực văn hóa đến thế hệ trẻ. Thực tế, nhiều trường đại học chưa quan tâm xây dựng văn hóa học đường, vì vậy những hành vi lệch chuẩn trong trường học có cơ hội phát sinh, nảy nở, trong đó có bạo lực học đường đang là vấn đề quan tâm của ngành giáo dục và của toàn xã hội. Không chỉ hướng SV đến các giá trị đạo đức, nhà trường, bên cạnh việc đào tạo nghề, còn cần có các kế hoạch cụ thể trang bị các kiến thức nền tảng về văn hoá nghệ thuật cho SV. Phải chăng sự thờ ơ hôm nay của một bộ phận không nhỏ giới trẻ đối với nghệ thuật dân tộc chính là sự phản chiếu thờ ơ của hệ thống giáo dục đối với việc bồi đắp, định hướng giá trị thẩm mỹ; giáo dục đạo đức; chăm lo đời sống văn hóa, tinh thần cho giới trẻ? Điều quan trọng hơn cả, hãy để tình yêu văn hoá dân tộc tự nó thấm vào hồn các thế hệ, đặc biệt là giới trẻ. Hãy để SV yêu nó theo cách của mình bởi đâu phải cứ luôn ồn ào, luôn nói yêu mới thực là yêu. Trách nhiệm của nhà trường là phải quảng bá, truyền đạt làm sao để họ cũng yêu mến âm nhạc dân tộc như thế và hơn thế; để âm nhạc dân tộc sống và chảy trong huyết quản của họ như tình yêu với tổ tiên, quê hương, nguồn cội; để sau tất cả những cái mới, những ồn ào, họ luôn muốn tìm về sự bình yên, sâu lắng nhất của tâm hồn. Nên tạo sân chơi cho SV có nhiều sự tiếp xúc với nghệ thuật truyền thống. Khi khán giả đến với một loại hình nghệ thuật phải bắt nguồn từ sự yêu mến, luyến nhớ và có thể tìm về ký ức của mình. Hãy làm cho họ chú ý dần dần để họ đến một lúc nào đó, đủ độ trải nghiệm, họ sẽ thích thay vì bằng các biện pháp tuyên truyền, thuyết giảng giáo điều. Văn hóa nhà trường phải bắt đầu từ các cấp quản lý, lãnh đạo các trường học; sau đó đội ngũ nhà giáo cần coi giáo dục văn hóa là nhân tố quan trọng, từ đó chú trọng hình thành và phát triển nhân cách văn hóa cho học sinh, góp phần thực hiện phong trào “xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Vai trò của các đoàn, hội cần được phát huy mạnh mẽ hơn nữa không chỉ mang tính phong trào mà cần đi vào chiều sâu, bài bản, lớp lang bởi văn hoá là thứ thẩm thấu, chuyển hoá dần chứ không thể hô hào cổ động là xong. Bên cạnh việc tổ chức các sân chơi văn hoá văn nghệ lành mạnh để SV được sáng tạo, cần có các sinh hoạt chuyên đề về văn hoá như việc mời các diễn giả, các nhà phê bình văn hoá nghệ thuật để tăng vốn hiểu biết về mỹ học cho SV. Quản lý văn hóa Có thể nói, SV ngày nay có nhiều cơ hội tiếp cận, hưởng thụ VHĐC nhưng cũng nảy sinh nhiều hệ luỵ từ việc VHĐC ồ ạt xuất hiện trên mọi diễn đàn, mọi phương diện sống. Người ta cố gắng lí giải điều đó, nhưng có thể quy về 3 nguyên nhân 1 sự xuất hiện xã hội tiêu dùng dẫn đến cuộc đua về tiêu dung; 2 sự ra đời xã hội giải trí dẫn đến cuộc đua thoả mãn cảm xúc vui vẻ, giải trí; 3 sự phát triển nhanh của xã hội truyền thông với cuộc chạy đua về kết nối bạn bè, cộng đồng cùng sở thích, cùng đam mê. Tuy nhiên, bên cạnh đó, xã hội hiện đại đem đến những lo âu và bấp bênh khi những đổi thay ồ ạt đang diễn ra trên toàn thế giới, bao gồm trong nó cả sự mơ hồ do không hề có những chuẩn mực nhất định nào cho những thay đổi này. Đây là những khó khăn mà thế hệ trẻ phải đối mặt trong quá trình xây dựng bản sắc cho riêng mình, những bản sắc đang trong giai đoạn định hình, vụn vặt, rời rạc, thậm chí chứa đựng nhiều mâu thuẫn. Quá trình này đòi hỏi SV phải luôn tỉnh táo, độc lập, làm chủ được những mối quan hệ cũng như tương lai của bản thân. SV ngày nay dường như phải đối mặt với rất nhiều khó khăn. Những định kiến dựa vào văn hoá truyền thống do vậy sẽ chỉ làm tăng thêm nơi họ sự mơ hồ vốn có. Văn hoá giới trẻ là một thực tế xã hội cần được công nhận. SV rất năng động và luôn nỗ lực hết sức để khẳng định mình. Xã hội cần khuyến khích điều đó cũng như đồng hành, chấp nhận những thách thức cùng họ. Sự cởi mở, tôn trọng, khách quan là rất cần thiết trong việc hỗ trợ thế hệ trẻ chọn lựa hướng đi trong tương lai. Để nâng cao khả năng tiếp nhận VHĐC của SV, các cơ quan quản lý văn hoá cần thực sự quan tâm tới việc đề ra các thiết chế cho SV 1 tạo cho SV các không gian vui chơi giải trí lành mạnh. Hiện nay, không gian phục vụ việc vui chơi, giải trí dành riêng cho SV còn thiếu và yếu, nhất là không gian ngoài trời. Cần có sự nhận thức đầy đủ và kịp thời của các cấp chính quyền về việc định hướng sự tiếp nhận VHĐC cho SV quan các hoạt động tuyên truyền, định hướng, tạo cho SV không gian sáng tạo để SV có bản lĩnh, có năng lực tiếp nhận các sản phẩm VHĐC có chất lượng, loại bỏ những sản phẩm yếu kém, phản văn hoá. Có thể tổ chức các hoạt động văn hoá văn nghệ tại địa bàn cư trú để tạo sân chơi lành mạnh, tăng cường giao lưu, kết nối thế hệ cho SV, thông qua đó lồng ghép các thông điệp, các giá trị văn hoá; 2 xiết chặt công tác quản lý, xét duyệt các sản phẩm VHĐC từ bên ngoài. Thực tế, nhiều sản phẩm được nhập lậu với nội dung phản văn hoá vẫn tràn lan trên thị trường, vô tư xuất hiện trên giảng đường, cantin, kí túc xá, phòng trọ… Đặc biệt, vấn đề quản lý các sản phẩm văn hoá trên truyền thông cần phải làm một cách bài bản, mạnh tay bởi đây là môi trường tiềm ẩn nhiều nguy cơ không lành mạnh nhất đến SV. Không nên phó thác việc giáo dục SV cho nhà trường hoặc các hoạt động vui chơi của họ cho các hội, đoàn. SV đã là công dân, họ có quyền lợi và trách nhiệm ngang nhau với các đối tượng khác trong xã hội. Do đó, các cấp, các ngành, các nhà quản lý văn hoá cần quan tâm hơn nữa tới SV thay vì trông cậy vào sự giáo dục của nhà trường và các đoàn, hội; 3 truyền thông cần đưa nhiều gương người tốt việc tốt, cần có những tấm gương SV truyền cảm hứng cho cộng đồng. Bên cạnh đó, các bình luận của các chuyên gia văn hoá, nghệ thuật cần được đưa tới gần hơn với SV bằng những cách dễ tiếp nhận nhất như lồng ghép trong các buổi ngoại khoá, tập huấn hoặc các mà trình diễn của SV. Tự giáo dục của sinh viên Muốn xây dựng con người có tri thức, có văn hoá thì quan trọng nhất là việc chính con người tự giáo dục. Nhà trường hay gia đình chỉ đóng vai trò định hướng, hỗ trợ sự phát triển mỗi cá nhân. Cái gốc của trí tuệ vẫn là do con người tự nhận thức, tự khai sáng và tự lĩnh hội. Khi SV tự nhận thức được suy nghĩ của mình là đúng hay sai thì sẽ dẫn đến hành động và lời nói tuân theo sự đúng – sai của tư duy ấy. Từ đó mới hình thành nên thế hệ SV nhân văn, sống trách nhiệm và sáng tạo. SV cần chủ động học cho mình, vì tri thức, kỹ năng và những ứng xử cần thiết trong nghề nghiệp sau này, học để suy nghĩ, tìm tòi và tự xác định những giá trị có thể sống chết vì nó, chứ không thụ động “làm theo thiên hạ” hay theo sắp đặt của mẹ cha với tâm lý ỷ lại… Là thể hiện khí phách tuổi hai mươi, “giữa đường thấy chuyện bất bằng chẳng tha” thay vì đổ thừa thế hệ đi trước về mọi điều mình chưa làm được… Nếu SV tự chủ, tự giáo dục mình thành người công dân có trách nhiệm, thì việc nâng cao năng lực thẩm mỹ để tiếp nhận VHĐC sẽ mang lại hiệu quả. Giáo dục, như ý nghĩa ngàn đời giản dị của nó, trước hết là tự giáo dục, để nên người. Ở thời đại trình độ nhận thức đã có bước phát triển cao, tiếp nhận – biến đổi văn hóa cũng không còn ở trong tình trạng tự phát mà đã trở thành hành vi tự ý thức của con người, trở thành xu thế tất yếu đáp ứng nhu cầu phát triển văn hóa của mọi dân tộc. Do vậy, việc xử lý các vấn đề liên quan tiếp nhận – biến đổi văn hóa cũng cần phải được quy chiếu từ nhãn quan của hành vi tự ý thức, phải trở thành bộ phận của một hoạch định văn hóa có ý nghĩa chiến lược và lâu dài. Như vậy, nếu các cơ quan tổ chức, lãnh đạo văn hóa có vai trò quan trọng về mặt xã hội, thì mỗi SV cũng giữ vai trò không kém, bởi con người chính là chủ nhân của văn hóa, là chủ thể của mọi sáng tạo văn hóa và do đó, xây dựng văn hóa phải bắt đầu từ xây dựng con người văn hóa. Bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, SV đứng trước nhiều lựa chọn để thỏa mãn đời sống tinh thần và xác lập hệ giá trị cho riêng mình. Do đó, bản thân SV phải tích cực, chủ động trau dồi tri thức, nâng cao thị hiếu thẩm mỹ của mình để thông qua việc tiếp nhận VHĐC, hoàn thiện nhân cách, gìn giữ được vốn văn hóa dân tộc và hội nhập sâu rộng với bạn bè quốc tế. 4. Kết luận VHĐC đã trở thành nhịp sống quen thuộc, gần gũi của SV trong bối cảnh hội nhập quốc tế. SV đã chủ động tiếp nhận các yếu tố mới lạ, hấp dẫn của VHĐC để khẳng định cái tôi, khẳng định bản ngã. Trong việc định hình phong cách, xác lập giá trị riêng của SV, VHĐC can dự phần lớn vào việc ấy. Nó giúp SV hoàn thiện nhân cách, chuẩn bị hành trang lập nghiệp. Tiếp nhận VHĐC của SV có nhiều thuận lợi bởi mức độ đậm đặc các sản phNm VHĐC vây quanh cuộc sống của họ, nhưng kèm theo đó cũng có vô số thách thức khi họ bị lạc lối giữa mê cung của chính những sản phẩm tốt – xấu lẫn lộn. Chính vì thế, nhà trường, gia đình, xã hội cần quan tâm, định hướng cho SV để họ nhận thức được ngay cả trong việc giải trí, cũng phải chọn lọc những sản phẩm lành mạnh, phù hợp để nâng cao năng lực thẩm mỹ, góp phần lành mạnh hoá lối sống cho SV. Đồng thời, chính bản thân SV cũng phải ý thức tự trau dồi vốn văn hoá để nâng cao khả năng tiếp nhận VHĐC. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Clotaire Rapaille 2017, Mật mã văn hoá, Nxb Lao động, Hà Nội. [2] Edward Wadie Said 2015 Văn hoá và Chủ nghĩa bá quyền, Nxb Tri thức, Hà Nội. [3] Đặng Cảnh Khanh 2006, Xã hội học thanh niên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. [4] Nguyễn Văn Kim Chủ biên 2017, Tiếp biến và hội nhập văn hoá ở Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội. [5] Nguyễn Trường Lịch 2012, “Giao lưu và tiếp nhận văn hóa thời hội nhập”, Diễn đàn văn nghệ Việt Nam, 205, 2. [6] Mai Quỳnh Nam 2000, “Văn hóa đại chúng và văn hóa gia đình”, Tạp chí Khoa học xã hội, số 4 72. [7] Hữu Ngọc 2015, Hồ sơ văn hoá Mỹ, Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội. Nguồn Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 11 – 2019 Ban Tu Thư
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN .............................................................. VŨ THỊ HƯƠNG ẢNH HƯỞNG CỦA TOÀN CẦU HÓA ĐẾN LỐI SỐNG SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Triết hoc ̣ Mã số 60220301 Người hướng dẫn khoa học Dương Văn Thịnh Hà nội - 2015 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của Dương Văn Thịnh. Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài là hoàn toàn trung thực. Học viên Vũ Thị Hương LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành luận văn thạc sĩ Triết học với đề tài “Ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay”, ngoài sự cố gắng của bản thân, Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Khoa Triết học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã đóng góp ý kiến để em hoàn thành luận văn này! Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Dương Văn Thịnh, là người trực tiếp hướng dẫn khoa học trong suốt quá trình em thực hiện đề tài. Mặc dù đã cố gắng song không tránh khỏi thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến để luận văn của được hoàn thiện hơn! Em xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2015 Học Viên Vũ Thị Hương MỤC LỤC MỞ ĐẦU..........................................................................................................1 1 Lý do chọn đề tài..........................................................................................1 2 Tổng quan tình hình nghiên cứu................................................................ 3 3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu..............................................................7 4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...............................................................8 5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu................................................ 8 6 Đóng góp của luận văn.................................................................................9 7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn..................................................9 8 Kết cấu của luận văn....................................................................................9 NỘI DUNG.................................................................................................... 10 CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỐI SỐNG SINH VIÊN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA TOÀN CẦU HÓA ĐẾN LỐI SỐNG SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY..........................................................................................10 Quan niệm về lối sống và lối sống sinh viên Việt Nam........................ 10 Quan niệm về lối sống...........................................................................10 Quan niệm về lối sống sinh viên Việt Nam..........................................17 Quan niệm về toàn cầu hóa và ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay................................................................27 Quan niệm về toàn cầu hóa..................................................................27 Biểu hiện về ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay................................................................................................. 39 Tiểu kết chương I.......................................................................................... 48 CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA TOÀN CẦU HÓA ĐẾN LỐI SỐNG SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY..................49 Thực trạng ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay.................................................................................................49 Ảnh hưởng tích cực của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam. ............................................................................................................................. 49 Ảnh hưởng tiêu cực của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên hiện nay .........................................................................................................................64 Một số giải pháp phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam.......................74 Tiểu kết chương 2..........................................................................................80 KẾT LUẬN....................................................................................................82 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................84 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ASEAN Hiệp hội quốc gia Đông Nam Á EU Liên minh Châu Âu GDP Tổng sản phẩm quốc nội OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế UNCTAD Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển UNDP Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc NQ Nghị quyết NICs Các nước công nghiệp mới KOVA Học bổng Kova TƯ Trung ương FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài Những năm gần đây, trên thế giới có nhiều biến động lớn. Một trong những biến động đó là toàn cầu hóa đang cuốn hút tất cả các nước trên thế giới. Đây là một xu thế tất yếu khách quan, hợp quy luật của thời đại mà không một quốc gia nào có thể đứng ngoài nếu không muốn bị tụt hậu. Toàn cầu hóa, một mặt đem lại cho tất cả các nước, nhất là các nước đang phát triển, những cơ hội lớn; mặt khác, nó cũng đặt ra những thách thức không nhỏ. Một trong những thách thức đáng lo ngại đó là sự phá vỡ những giá trị tinh thần truyền thống đã có từ lâu đời của các dân tộc, làm cho dân tộc này có thể bị hòa tan hay trở thành cái bóng của dân tộc khác, tức là đánh mất bản thân mình và đánh mất sức mạnh vốn có của chính dân tộc mình. Như vậy, toàn cầu hóa có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội của mọi quốc gia, trong đó có lối sống của con người. Việt Nam là nước có bề dày lịch sử lâu đời và đã trải qua nhiều sự biến động lớn. Cũng như tất cả các nước khác trên thế giới, để tồn tại và tiếp tục phát triển, Việt Nam không thể đứng ngoài dòng chảy toàn cầu hóa. Trên con đường hội nhập quốc tế, Việt Nam đã tranh thủ được nhiều thời cơ để rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển trên thế giới và trong khu vực; bên cạnh đó cũng chứa đựng những nguy cơ đe dọa những giá trị truyền thống vốn có từ bao đời nay của dân tộc, trong đó có sự thay đổi về lối sống. Trong những năm gần đây, một vấn đề rất được quan tâm là lối sống của sinh viên hiện nay. Giới trẻ, trong đó có sinh viên – đối tượng sinh ra và lớn lên trong thời kỳ đổi mới với những biến đổi vô cùng nhanh chóng, cả về đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần xã hội, đang là đối tượng nhạy cảm nhất trước những biến chuyển của toàn cầu hóa. Toàn cầu hóa vừa có ảnh hưởng tích cực vừa có ảnh hưởng tiêu cực đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay. Việc nghiên cứu ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống của sinh 1 viên hiện nay là rất cần thiết cho quá trình xây dựng nguồn nhân lực mới trong tình hình đất nước hội nhập. Nói đến sinh viên tức là nói đến thế hệ trẻ đang nắm trong tay những tri thức cùng với những hiểu biết về tiến bộ xã hội nói chung và sự phát triển của đất nước nói riêng. Sinh viên là một lực lượng không hề nhỏ, là lớp người trẻ được đào tạo toàn diện và đầy đủ nhất, bao gồm các chuyên ngành học trên khắp các lĩnh vực tự nhiên, xã hội, và tư duy… và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như chuyên ngành học, sự phân bố các trường, khu vực sinh sống và học tập… Tất cả những yếu tố đó đã hình thành nên lối sống của sinh viên. Lối sống sinh viên Việt Nam nhìn chung là đa dạng và phong phú. Xã hội phát triển càng cao, càng văn minh hiện đại, công nghệ thông tin ngày càng phát triển thì sẽ mang lại nhiều thời cơ cũng như thách thức cho con người Việt Nam nói chung và cho sinh viên Việt Nam nói riêng. Khi mà các nền văn hóa đa dạng du nhập vào Việt Nam, có những điều tốt đẹp nhưng cũng có không ít những phản văn hóa không thích hợp với tư tưởng, với văn hóa của người phương Đông. Câu hỏi đặt ra là sinh viên sẽ thích ứng như thế nào với một môi trường mới? Họ sẽ chọn lọc những cái hay, cái đẹp phù hợp với bản thân hay học theo cái xấu không phù hợp để rồi dần dần đánh mất đi truyền thống dân tộc? Mỗi người một cách thích ứng riêng, nó đã tạo nên nhiều lối sống trong sinh viên và giới trẻ. Sinh viên là lớp tri thức đại diện và quyết định tương lai đất nước, chính vì thế việc bàn về lối sống của sinh viên là điều rất quan trọng và hết sức cần thiết. Toàn cầu hóa là một làn sóng vô cùng mạnh mẽ đã ảnh hưởng đến lối sống của sinh viên không chỉ theo chiều hướng tích cực mà theo cả chiều hướng tiêu cực. Do vậy, phải nghiên cứu một cách có hệ thống những ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống của sinh viên Việt Nam để tìm ra những giải pháp phát huy những ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực 2 của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên, góp phần xây dựng lối sống sinh viên phù hợp với yêu cầu của sự phát triển con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Với những lý do trên, tôi chọn đề tài “Ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ Triết học của mình. 2 Tổng quan tình hình nghiên cứu Ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống của người Việt Nam nói chung, sinh viên Việt Nam nói riêng là điều mà ai cũng nhận thấy. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, toàn cầu hóa là cản trở hay là động lực cho việc xây dựng lối sống sinh viên? Và nội dung, yêu cầu trong việc xây dựng lối sống cho sinh viên là gì, đòi hỏi phương hướng với những giải pháp gì trong việc phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên. Xung quanh vấn đề này có nhiều công trình theo những phương pháp tiếp cận khác nhau, quan điểm khác nhau, có thể khái quát một số hướng nghiên cứu sau. Thứ nhất Những công trình đề cập đến lối sống và lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay Khi bàn về lối sống và lối sống sinh viên Việt Nam đã có nhiều công trình được các tác giả nghiên cứu, điển hình như một số công trình sau Tác phẩm “ Bàn về lối sống và nếp sống xã hội chủ nghĩa” do tác giả Trần Độ chủ biên đã trình bày khá hệ thống các khái niệm và các mặt cần nghiên cứu của lối sống ở Việt Nam theo mô hình chủ nghĩa xã hội. Khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới đã có nhiều công trình nghiên cứu lối sống của thế hệ trẻ mang lại bức tranh sinh động về thực trạng lối sống của thanh niên, sinh viên. Tác giả Trần Thị Minh Đức với công trình “Ảnh hưởng của môi trường ký túc xá sinh viên với lối sống sinh viên nội trú” đã phân tích thực trạng lối sống sinh viên trong môi trường ký túc xá. Công trình “ Lối sống và nhân cách của thanh niên” của tác giả Đỗ Long trình bày mối quan hệ của lối sống với việc hình thành nhân cách cho thanh niên 3 Đề tài “ Đặc điểm lối sống sinh viên hiện nay và những phương hướng biện pháp giáo dục” của Viện nghiên cứu phát triển giáo dục đã xác định khái niệm lối sống sinh viên và nêu ra một hệ thống những đặc điểm chủ yếu của lối sống sinh viên, từ đó tác giả đưa ra phương hướng và những giải pháp nhằm giáo dục lối sống cho sinh viên. Tác giả Nguyễn Viết Chức với công trình “ Xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa ở thủ đô Hà Nội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã đề cập đến tầm quan trọng của việc xây dựng lối sống với đời sống văn hóa ở thủ đô Hà Nội. Khái niệm “ Lối sống” được nghiên cứu với ý nghĩa là một hình thái kinh tế - xã hội qua công trình “ Lối sống xã hội chủ nghĩa và xu thế toàn cầu hóa” do Thanh Lê làm chủ biên. Tập thể tác giả và tác giả Nguyễn Ngọc Hà với công trình “ Đặc điểm tư duy và lối sống của con người Việt Nam hiện nay một số vấn đề lý luận và thực tiễn” đã trình bày những quan điểm khác nhau về định nghĩa “ lối sống” Tác giả Hà Nhật Thăng đã bàn về đạo đức lối sống của thanh niên sinh viên trong bài “Thực trạng đạo đức, tư tưởng, chính trị, lối sống của thanh niên, sinh viên” Qua bài viết “ Xây dựng văn hóa đạo đức và lối sống văn hóa trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế” GS. TS Trần Văn Bính khẳng định toàn cầu hóa là xu thế khách quan, tất yếu đối với mọi quốc gia, tác động tích cực trên cả lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực tinh thần, trong đó có lối sống. Những công trình nghiên cứu trên đã cung cấp cho tác giả luận văn có cơ sở để xây dựng quan niệm của mình về lối sống và lối sống sinh viên. Thứ hai Các công trình nghiên cứu về toàn cầu hóa và ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay 4 Tác phẩm “Toàn cầu hóa và những mặt trái của nó” do Nguyễn Ngọc Toàn dịch đã viết về bản chất của toàn cầu hóa, và những bất cập trong đời sống xã hội xã hội chủ nghĩa do toàn cầu hóa mang lại trên nhiều lĩnh vực. Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thanh Minh năm 2007 với chủ đề “ Thách thức của toàn cầu hóa kinh tế đối với các nước đang phát triển và những bài học vượt qua thách thức cho Việt Nam” đã hệ thống hóa lý thuyết chủ yếu liên quan đến quan điểm toàn cầu hóa nền kinh tế, phân tích những đặc điểm của nước ta khi tham gia vào toàn cầu hóa kinh tế, phân tích thực tiễn tham gia quá trình toàn cầu hóa kinh tế ở một số nước đang phát triển, chỉ ra tác động hai mặt tích cực và tiêu cực của toàn cầu hóa đến các nước đang phát triển. Trong giai đoạn toàn cầu hóa, tác giả Nguyễn Thị Huyền có nói về nguy cơ suy thoái đạo đức, lối sống con người Việt Nam qua bài viết “ Toàn cầu hóa và nguy cơ suy thái đạo đức, lối sống con người Việt Nam hiện nay”. Tác giả của công trình này đã chỉ ra tác động tiêu cực của toàn cầu hóa đến lối sống của con người Việt Nam hiện nay. Công trình “Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở nước ta” do Nguyễn Chí Mỳ chủ biên đã luận giải sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong cơ chế thị trường, từ đó, đề xuất phương hướng, giải pháp hình thành thang giá trị đạo đức mới, xây dựng giá trị đạo đức mới cho cán bộ quản lý trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn Huyên đã đề cập đến những giá trị truyền thống Việt Nam và những vấn đề đặt ra trong xu thế toàn cầu hóa trong công trình “Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa”. Hai tác giả trên đã chỉ ra toàn cầu hóa có thể tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, xã hội, nhưng lại tạo nên những thách thức cho việc giữ gìn các giá trị truyền thống của dân tộc, đòi hỏi phải có giải pháp để vượt qua những thách thức đó. 5 Thứ baCác công trình đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực và phát huy ảnh hưởng tích cực của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay Công trình “Một số biểu hiện của sự biến đổi giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay và giải pháp khăc phục” của Nguyễn Đình Tường. Luận án tiến sỹ triết học của Nguyễn Văn Lý “Kế thừa và đổi mới các giá trị đạo đức truyền thống trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” đã đưa ra những giải pháp thiết thực nhằm giáo dục, kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc cho sinh viên trong điều kiện hiện nay ở nước ta. Tác giả Lưu Thu Thủy với bài “Thực trạng và giải pháp giáo dục đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống cho học sinh, sinh viên Việt Nam” Luận án tiến sỹ triết học của Võ Văn Thắng về đề tài “ Kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc trong việc xây dựng lối sống ở Việt Nam hiện nay” PGS, TS Nguyễn Văn Phúc với bài viết “ Về việc tạo ra bước chuyển mạnh mẽ trong xây dựng nền đạo đức mới ở nước ta hiện na” đã luận chứng một số giải pháp căn bản để tạo ra một bước chuyển mạnh mẽ trong việc xây dựng nền đạo đức mới ở nước ta. Một số công trình trên đây đã cung cấp cho tác giả luận văn những kiến thức rất bổ ích, đồng thời gợi mở cho tác giả những nguyên tắc phương pháp luận để đề ra phương hướng và giải pháp phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay theo yêu cầu của đề tài luận văn. Thứ tư, Những vấn đề đặt ra để luận văn tiếp tục nghiên cứu Một là, Các công trình nghiên cứu về lối sống sinh viên và ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên chủ yếu dưới dạng bài báo khoa học hay đề tài khoa học nhưng còn ít công trình nghiên cứu hệ thống dưới góc độ 6 triết học về ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay. Những công trình nghiên cứu về lối sống trong giai đoạn vừa qua cũng chỉ đi sâu nghiên cứu từng lĩnh vực riêng biệt của lối sống và lối sống sinh viên, chưa xem xét một cách cụ thể các yếu tố ảnh hưởng, tác động của toàn cầu hóa đến lối sống của sinh viên. Luận văn mong muốn tiếp tục kế thừa, bổ sung làm sâu sắc thêm khái niệm lối sống, lối sống sinh viên, xác định tác động của toàn cầu hóa đến các yếu tố của lối sống và tầm quan trọng của việc xây dựng lối sống sinh viên. Hai là, trong các công trình đã công bố, các tác giả đã cố gắng phân tích làm rõ thực trạng lối sống sinh viên nhưng không nhiều và còn chung chung. Các tác giả chủ yếu bàn về thực trạng lối sống con người Việt Nam. Nhưng những công trình trên đã đề cập đến những vấn đề có liên quan đến đề tài luận văn ở những góc độ khác nhau, phương pháp khác nhau, nội dung khác nhau về lối sống, xây dựng lối sống cho thanh niên, sinh viên; tác động của toàn cầu hóa đến lối sống… Tuy nhiên, còn khá ít công trình nghiên cứu một cách hệ thống dưới góc độ triết học vấn đề ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay. Xuất phát từ nội dung trên, luận văn đi sâu tìm hiểu vấn đề Ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay. Đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực và phát huy ảnh hưởng tích cực đến lối sống sinh viên, hình thành ở sinh viên lối sống phù hợp với yêu cầu của thực tiễn xã hội hiện nay. 3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu - Mục đích nghiên cứu Làm rõ một số vấn đề lý luận và thực trạng ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay. Từ đó, đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay. 7 - Nhiệm vụ nghiên cứu + Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về lối sống, lối sống sinh viên, toàn cầu hóa và ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay. + Phân tích thực trạng ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay + Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay. 4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu Những ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống của sinh viên Việt Nam hiện nay. - Phạm vi nghiên cứu Đề tài chỉ nghiên cứu trong phạm vi sinh viên đang học tại các trường đại học trong thời gian đầu thế kỷ XXI đến nay, và chỉ nghiên cứu những nét chung của lối sống sinh viên như lối sống thể hiện trong hoạt động học tập, trong giao tiếp ứng xử ở nhà trường, trong hoạt động xã hội của sinh viên. 5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu - Cơ sở lý luận Luận văn dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam về đạo đức, lối sống thanh niên, sinh viên, ngoài ra luận văn còn tham khảo thêm những thành tựu khoa học của các công trình nghiên cứu liên quan tới nội dung được đề cập tới trong luận văn. - Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu lịch sử và logic, phân tích và tổng hợp, so sánh…nhằm thực hiện mục tiêu mà luận văn đã đặt ra. 8 6 Đóng góp của luận văn - Luận văn góp phần xác định rõ cơ sở lý luận về ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống sinh vên Việt Nam hiện nay. - Luận văn góp phần làm rõ thực trạng ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay. - Luận văn đề xuất một số giải pháp phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay. 7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn - Luận văn góp phần làm sáng tỏ tầm quan trọng của việc xây dựng lối sống cho sinh viên trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. - Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các đoàn thể, cá nhân trực tiếp làm công tác giáo dục sinh viên và giảng dậy bộ môn có liên quan. 8 Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 02 chương và 06 tiết. 9 NỘI DUNG CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỐI SỐNG SINH VIÊN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA TOÀN CẦU HÓA ĐẾN LỐI SỐNG SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY Quan niệm về lối sống và lối sống sinh viên Việt Nam Quan niệm về lối sống - Khái niệm về lối sống “ Lối sống” từ lâu đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như tâm lí học, giáo dục học, đạo đức học, triết học… Trong nền văn hóa Việt Nam cổ truyền không có khái niệm lối sống. Trước cách mạng Tháng Tám, khái niệm phong hóa và phong tục được dùng rộng rãi trong ngôn ngữ nói và viết. Khái niệm phong hóa vừa phản ánh sự bền vững của phong tục tập quán, vừa chỉ rõ mức độ thấm đượm nhuần nhụy và tinh tế của giáo dục và văn hóa dân tộc trong muôn mặt đời thường. Trong khi đó phong tục là lối sống đã thành nền nếp, thành nếp sống và tập quán lâu đời. Cuộc cải biến phong hóa dân tộc ở xã hội ta được mở đầu từ những năm 30 của thế kỷ XX và phát triển mạnh mẽ thành phong trào đời sống mới do chủ tịch Hồ Chí Minh phát động từ năm 1946. Từ đó việc tổ chức cuộc sống lành mạnh, khoa học trong gia đình, ngoài thôn xóm, phố phường được mọi người quan tâm. Đời sống mới tạo ra nền văn hóa mới và con người mới với lối sống mới, đạo đức mới và chuẩn giá trị mới. Lối sống mới trở thành thuật ngữ thông dụng trong cuộc sống hàng ngày và trong đời sống khoa học. Hơn thế trong khuôn khổ của chủ nghĩa xã hội trên thế giới trước đây, từ những năm 70 của thế kỷ XX, một hội đồng nghiên cứu về lối sống xã hội chủ nghĩa được thành lập và Việt Nam là một thành viên tích cực. Có thể nói thuật ngữ lối sống xuất hiện như là kết quả của quá trình cải biến xã hội nói chung và xây dựng đời sống văn hóa mới nói riêng. Và cùng 10 với quá trình xây dựng con người mới, lối sống mới được nghiên cứu sâu rộng trên bình diện khoa học. Cho đến nay, chủ đề lối sống đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn ở nước ta. Về mặt ngữ nghĩa, lối sống trong tiếng Pháp là mode de vie, trong tiếng Anh là mode of life hoặc way of life, trong tiếng Đức là Lebensweise. Mặc dù có nhiều tác giả, nhiều tài liệu đề cập đến khái niệm lối sống, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về vấn đề này. Trong tác phẩm “ Hệ tư tưởng Đức”, và đã nêu lên quan niệm, sản xuất là yếu tố quyết đính sự tồn tại của cá nhân và phương thức sản xuất là hình thức cơ bản của hoạt động sống của con người. – viết “Không nên nghiên cứu phương thức sản xuất ấy đơn thuần theo khía cạnh nó là sự tái sản xuất ra sự tồn tại thể xác của các cá nhân. Mà hơn thế, nó là một phương thức hoạt động nhất định của những cá nhân ấy, một hình thức nhất định của hoạt động sống của họ, một phương thức sinh sống nhất định của họ” [45,tr30] Theo lối sống chính là phương thức, là dạng hoạt động của con người, lối sống chịu sự quy định của phương thức sản xuất và toàn bộ những điều kiện sinh sống của con người. Từ đó cho rằng, ở những hình thái kinh tế - xã hội khác nhau sẽ có lối sống tương ứng với những hình thái kinh tế - xã hội đó. Đặc biệt, trong những xã hội có giai cấp, lối sống cũng mang tính giai cấp. Tiếp cận lối sống trên phương diện phương thức hoạt động và tổng thể những quan hệ kinh tế, chính trị xã hội, văn hóa, cho rằng “lối sống là tổng hòa những nét cơ bản, nói lên những đặc điểm của các hoạt động sống của xã hội, dân tộc, giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định”[70, Tiến sĩ triết học xô viết cũng dựa vào phạm trù hình thái kinh tế - xã hội, một phạm trù bao quát tất cả các điều kiện và những nhân tố quyết định lối sống, để xác 11 định nội dung lối sống. Ông định nghĩa lối sống là “ những hình thức cố định, điển hình của hoạt động sống cá nhân và tập đoàn của con người; những hình thức ấy nói lên các đặc điểm về sự giao tiếp, hành vi và nếp nghĩ của họ trong các lĩnh vực lao động, hoạt động xã hội – chính trị, sinh hoạt và giải trí”[ 70, Những định nghĩa bao quát này có thể phản ánh được đầy đủ “cái xã hội” của lối sống, nhưng lối sống là cái xã hội trong cái cá nhân cho nên tính chủ thể của lối sống chưa được phản ánh rõ nét trong các định nghĩa trên. Trong tiếng Việt, lối sống là một danh từ ghép gồm từ lối và từ sống. Lối là lề lối, thể thức, kiểu cách, phương thức. Sống là sinh hoạt, là quá trình hoạt động sinh vật và xã hội của mỗi con người. Theo nghĩa từ ngữ đó thì lối sống là thể thức, phương thức hoạt động của con người. Khái niệm “lối sống” bắt đầu được đề cập trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng và tiếp tục được đề cập đến ở các kỳ đại hội tiếp theo. Đại hội XI khẳng định “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp…làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà Nước”[22, Sự suy thoái về đạo đức diễn ra cả trong giới trẻ. Lối sống ở đây được dùng theo nghĩa hẹp, chỉ các hành vi đạo đức, cách ứng xử của con người. Quan điểm của các nhà khoa học thuộc đề tài cấp Nhà nước được nêu khái quát trong Báo cáo tổng kết chương trình KX-06 1991 – 1995 như sau “Lối sống, trong một chừng mực nhất định, là cách ứng xử của những người cụ thể trước những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của môi trường sống. Môi trường sống là cái khách quan quy định, là điều kiện khách quan trực tiếp tác động và ảnh hưởng đến lối sống của con người, của các nhóm xã hội và cộng đồng dân cư”[61]. Định nghĩa này tiếp cận lối sống như một phương thức hoạt động thực tế của con người trong một môi trường nhất định. Và lối sống tuy chịu sự tác động khách quan của môi trường sống nhưng khi 12 trở thành lối sống thì cùng với truyền thống văn hóa, lối sống có thể biến cải môi trường tự nhiên sao cho thích hợp với hệ thống các nhu cầu sống của con người. Định nghĩa này có ưu điểm là đã làm sáng tỏ được mối quan hệ biện chứng giữa lối sống và môi trường, chỉ ra được vai trò tích cực của văn hóa lối sống và văn hóa nói chung. Trên cơ sở tiếp cận quan điểm của chủ nghĩa Mac – Lênin về lối sống, GS Vũ Khiêu trong tác phẩm “Văn hóa Việt Nam, xã hội và con người” đã định nghĩa “ Lối sống là phạm trù xã hội, khái quát toàn bộ hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định và biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống trong lao động và hưởng thụ, trong quan hệ giữa người với người, trong sinh hoạt tinh thần và văn hóa”[41, TS Nguyễn Viết Chức cho rằng “Lối sống là tổng hòa những dạng hoạt động sống điển hình và tương đối ổn định của con người được vận hành theo một bảng giá trị xã hội nào đó trong sự thống nhất với các điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định”[09, Như vậy, trên cơ sở những quan điểm mà các tác giả đưa ra khi định nghĩa về lối sống, chúng ta có thể nhận thấy những nét tương đồng khi cho rằng lối sống là sự khái quát hay tổng hòa toàn bộ hoạt động sống của con người trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định và biểu hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống từ lao động, trong sinh hoạt vật chất đến tinh thần, trong quan hệ giữa người với người. Từ những phân tích, nghiên cứu của các nhà nghiên cứu ở trên, ta có thể định nghĩa lối sống là phương thức sống của con người trong một chế độ xã hội nhất định được biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống như lao động, sản xuất, hoạt động chính trị, hoạt động văn hóa tinh thần và hoạt động giao tiếp hàng ngày. Từ định nghĩa trên, có thể thấy lối sống có những nội dung cơ bản sau 13 Thứ nhất, lối sống là tổng hòa những dạng hoạt động sống ổn định của con người được vận hành theo một bảng giá trị xã hội nào đó trong sự thống nhất với các điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất địn. Đặc trưng bản chất nhất của lối sống trực tiếp gắn với giá trị tinh thần – văn hóa của con người. Thứ hai, lối sống chịu sự quy định của phương thức sản xuất và toàn bộ các điều kiện sống của con người. Tuy nhiên sự quy định đó phải thông qua hoạt động của chủ thể và mang dấu ấn khúc xạ bởi các chủ thể mà các chủ thể đó là con người hoặc các cộng đồng người với tư cách là sản phẩm của hoàn cảnh, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra hoàn cảnh. Do đó, lối sống có tính chất độc lập tương đối so với sự phát triển của cơ sở hạ tầng xã hội. Nó có thể gây ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đối với phương thức sản xuất và những điều kiện khác quy định nó. Thứ ba, lối sống có tính linh hoạt và cơ động xã hội cao. Mỗi lối sống đều có đặc trưng riêng về nội dung và hình thức biểu hiện. Thứ tư, để nắm bắt được đặc trưng bản chất của lối sống khi xem xét toàn bộ các hình thức hoạt động của con người cần coi trọng đặc biệt hoạt động lao động – sản xuất, các giá trị vật chất và tinh thần. Bởi lẽ, đây là hình thức hoạt động nền tảng để con người bồi dưỡng tính người và bản chất con người – xã hộị. Thứ năm, con đường để nắm bắt nội dung và phạm vi của khái niệm lối sống là tìm hiểu các hành động xã hội, cách thức hình thành và định hình các khuôn mẫu ứng xử. Thứ sáu, lối sống xã hội nói chung đều mang tính chất văn hóa, vì việc biểu tượng hóa thế giới tự nhiên và xã hội thành thế giới của những biểu trưng văn hóa trong nhận thức, tình cảm và hành động của con người là đặc thù của xã hội loài người. Khái niệm lối sống sẽ không được tiếp cận triệt để và hệ thống nếu không tìm hiểu ý nghĩa biểu tượng từ các hành động xã hội, quá trình xã hội, quan hệ xã hội cho đến khuôn mẫu ứng xử và thể chế xã hội. 14
Những yêu cầu đặt ra đối với công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên Việt Nam hiện nay Thế hệ trẻ nói chung, sinh viên nói riêng luôn là lực lượng quan trọng của mỗi dân tộc. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò của thế hệ trẻ đối với sự phát triển của đất nước Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội. Người khẳng định, tuổi trẻ không những là người kế tục các thế hệ đi trước mà còn là tương lai của đất nước, của dân tộc. Sinh viên Việt Nam là một bộ phận của thanh niên Việt Nam đang theo học ở các trường cao đẳng, đại học. Chính * Đại học Công nghiệp Hà Nội vì vậy, họ là nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ có nhiều đóng góp cho sự phát triển đất nước trong tương lai. Chăm lo, bồi dưỡng toàn diện sinh viên vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển bền vững của xã hội. Quán triệt thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế và Chỉ thị 31/CT-TTg ngày 04 tháng 12 năm 2019 về tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên của Thủ tướng Chính phủ, những năm qua, công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên đã đạt 1. DIỄN ĐÀN GIÁO DỤC Discover the world's research25+ million members160+ million publication billion citationsJoin for free TẠP CHÍ GIÁO DỤC LÝ LUẬN - SỐ 308 6/2020 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY TRỊNH THỊ HẠNH * Sinh viên là bộ phận ưu tú của thanh niên được đào tạo chuyên sâu về chuyên môn. Trong bối cảnh các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hiện nay, việc tăng cường giáo dục đạo đức cho sinh viên là vấn đề quan trọng. Trong thời đại ngày nay, cùng với giáo dục cho sinh viên giữ gìn và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống cần giáo dục cho sinh viên những phẩm chất đạo đức mới. Trên cơ sở những yêu cầu đặt ra, một số nội dung giáo dục đạo đức cho sinh viên Việt Nam, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên Việt Nam trong thời gian tới. Giáo dục đạo đức, sinh viên Việt Nam. Những yêu cầu đặt ra đối với công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên Việt Nam hiện nay Thế hệ trẻ nói chung, sinh viên nói riêng luôn là lực lượng quan trọng của mỗi dân tộc. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò của thế hệ trẻ đối với sự phát triển của đất nước Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội. Người khẳng định, tuổi trẻ không những là người kế tục các thế hệ đi trước mà còn là tương lai của đất nước, của dân tộc. Sinh viên Việt Nam là một bộ phận của thanh niên Việt Nam đang theo học ở các trường cao đẳng, đại học. Chính *Đại học Công nghiệp Hà Nội vì vậy, họ là nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ có nhiều đóng góp cho sự phát triển đất nước trong tương lai. Chăm lo, bồi dưỡng toàn diện sinh viên vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển bền vững của xã hội. Quán triệt thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế và Chỉ thị 31/CT-TTg ngày 04 tháng 12 năm 2019 về tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên của Thủ tướng Chính phủ, những năm qua, công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên đã đạt TẠP CHÍ GIÁO DỤC LÝ LUẬN - SỐ 308 6/2020 được những kết quả tích cực Phần lớn sinh viên Việt Nam giàu lòng yêu nước, có tinh thần bảo vệ chủ quyền Tổ quốc; luôn tích cực, chủ động trong học tập, rèn luyện; chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, một bộ phận sinh viên hiện nay có thói quen đua đòi, hưởng lạc, chạy theo những thói hư tật xấu, những tệ nạn xã hội, không tự giác học tập, rèn luyện. “Một bộ phận sinh viên thực dụng trong quan niệm đạo đức và hành vi ứng xử, muốn thể hiện vai trò của cá nhân và đề cao các giá trị vật chất hơn những giá trị tinh thần; một số sinh viên có thái độ thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm đạo đức với bản thân, gia đình, xã hội; xa rời các giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc, sống buông thả, tự đặt mình ra khỏi những nguyên tắc, có lối hành xử bạo lực phi nhân tính, lười học tập, lười lao động”. Tình trạng trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là do công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên vẫn chưa được các cấp, các ngành quan tâm đúng mức; sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình, xã hội còn thiếu đồng bộ, chặt chẽ. Công tác giáo dục đạo đức chưa Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Sinh viên Việt Nam lần X, tr 22. Đạo đức, lối sống sinh viên Việt Nam thời đại mới, ngày 28/12/2013. Thủ tướng Chính phủ, Chỉ thị 31/CT-TTg ngày 04 tháng 12 năm 2019 về tăng cường giáo dục được coi trọng đúng mức, không được tiến hành thường xuyên mà làm lấy lệ, hình thức và chưa xuất phát từ mục tiêu giáo dục con người. Sau gần 35 năm tiến hành đổi mới toàn diện đất nước, nền kinh tế thị trường đã mang lại nhiều thành tựu cho đất nước, đời sống của người dân không ngừng được cải thiện và nâng cao. Với những tác động mạnh mẽ, kinh tế thị trường cũng dẫn đến sự chuyển dịch của các giá trị đạo đức. Bên cạnh việc coi trọng các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc mặt trái của nền kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đã làm cho chủ nghĩa cá nhân cực đoan gia tăng, có nguy cơ phá hoại rất nhiều chuẩn mực đạo đức của cộng đồng, chà đạp lên tình nghĩa gia đình, quan hệ thầy trò, đồng nghiệp. Một bộ phận không nhỏ các nhóm xã hội khác nhau khi mưu cầu lợi ích cá nhân đã đặt vị trí của nó quá cao trong thang giá trị đạo đức, lên trên cả những tiêu chí khuôn mẫu. Quan niệm đó đã biến thành lối sống vụ lợi của họ, nghiêm trọng hơn có thể dẫn đến sự biến chất, cơ hội, suy thoái về đạo đức, đi ngược lại với những giá trị nhân văn, nhân đạo vốn có của truyền thống dân tộc. Thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, các thế lực thù địch xác định thế hệ trẻ nói chung, sinh viên nói riêng là lực lượng quan trọng cần lôi kéo, tác động. Để lôi kéo, tác đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên, TẠP CHÍ GIÁO DỤC LÝ LUẬN - SỐ 308 6/2020 động sinh viên, các thế lực thù địch ra sức truyền bá mô hình chính trị, kinh tế, tư tưởng và lối sống của chủ nghĩa tư bản, tìm mọi cách xuyên tạc lịch sử, cổ vũ sinh viên theo lối sống hưởng thụ vật chất, coi nhẹ các giá trị tinh thần... Thực trạng trên đã đặt ra yêu cầu cần phải nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên – nguồn nhân lực chất lượng cao trong tương lai. 2. Một số nội dung giáo dục đạo đức cho sinh viên Việt Nam hiện nay Trước hết, cần quan tâm giáo dục những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh nhằm xây dựng cho sinh viên thế giới quan, phương pháp luận đúng đắn để giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra; nâng cao “sức đề kháng” cho sinh viên trước những luận điệu sai trái, xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của các thế lực phản động. Thứ hai, chú trọng giáo dục làm cho sinh viên nhận thức đúng các giá trị chân, thiện, mỹ, những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Bồi dưỡng cho sinh viên lý tưởng xã hội chủ nghĩa, có bản lĩnh chính trị vững vàng; khơi dậy cho sinh viên niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân đã lựa chọn. Từ đó, giúp cho sinh viên củng cố niềm tin, xây dựng ước mơ và hoài bão được cống hiến tài năng, trí tuệ của bản thân để xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh. Thứ ba, nội dung giáo dục đạo đức phải bao gồm cả ba mặt Phát triển ý thức đạo đức; hình thành nhu cầu, động cơ, tình cảm đạo đức phù hợp với nền đạo đức mới; xây dựng hành vi và thói quen đạo đức phù hợp với yêu cầu công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, thực hiện mục tiêu Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Trong đó, cần đặc biệt chú trọng phát triển ý thức đạo đức nhằm trang bị cho sinh viên những hiểu biết về các chuẩn mực, quy tắc đạo đức. Hình thành nhu cầu, động cơ, tình cảm đạo đức phù hợp để thúc đẩy hành vi đạo đức, hình thành thói quen đạo đức. Đồng thời, nâng cao hiệu quả giáo dục lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục chủ nghĩa yêu nước, lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa tập thể, lòng nhiệt tình hăng say lao động, có ý thức bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa. Tăng cường giáo dục cho sinh viên về nội quy, quy chế nhà trường; các quy định của pháp luật về an toàn giao thông, phòng chống ma tuý và các tệ nạn xã hội… giúp sinh viên vừa có ý thức tự giác, chủ động vừa nhận thức được những giới hạn cụ thể trong thái độ và hành vi của mình. Thứ tư, giáo dục những kỹ năng “mềm” để sinh viên có thể xử lý các tình huống nảy sinh trong cuộc sống một cách tích cực nhất. Thực tế cho thấy, do mới tự lập và sống xa nhà, thiếu sự quản lý, giáo dục của gia đình nên nhiều sinh viên đã không khỏi bỡ ngỡ, gặp khó TẠP CHÍ GIÁO DỤC LÝ LUẬN - SỐ 308 6/2020 khăn nhất là trong những ngày đầu mới nhập học. Cũng có nhiều gia đình do những khó khăn của cuộc sống đã không thể thường xuyên quan tâm, chăm lo cho sinh viên. Thậm chí, nhiều gia đình cho rằng chỉ cần cung cấp đầy đủ vật chất, tiền bạc là đã hoàn thành nhiệm vụ với sinh viên mà thiếu quan tâm đến tình cảm, cảm xúc của sinh viên. Những quan niệm lệch lạc đó đã “khoán trắng” việc giáo dục sinh viên cho xã hội và nhà trường. Do đó, đã dẫn đến hệ lụy là nhiều sinh viên do thiếu sự quan tâm, yêu thương của gia đình đã trượt dài trong lối sống buông thả, thiếu sự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức. Do đó, việc trang bị cho sinh viên những kỹ năng mềm để có thể xử lý các tình huống nảy sinh trong cuộc sống một cách tích cực nhất là vấn đề cấp bách hiện nay. 3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên Việt Nam trong thời gian tới Trong thời gian tới, để nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên cần thực hiện một số giải pháp sau Một là, nâng cao nhận thức và tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các nhà trường trong giáo dục đạo đức cho sinh viên Nhà trường cần phát hơn nữa vai trò chủ đạo của mình trong giáo dục đạo đức cho sinh viên. Nhà trường cần phát huy vai trò, trách nhiệm phối hợp giữa phòng công tác sinh viên và với các khoa, bộ môn giảng dạy về lý luận chính trị trong giáo dục cho sinh viên ý thức bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch; tăng cường lồng ghép những nội dung này trong các tài liệu, giáo trình, bài trong giảng lý luận chính trị. Đồng thời, tăng cường tổ chức các buổi hội thảo, giao lưu, trao đổi, tọa đàm về học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phát động các phong trào thi đua gương điển hình người tốt, việc tốt trong các nhà trường với các chính sách khen thưởng, động viên kịp thời. Nhà trường cần phát huy hơn nữa vai trò của tổ chức Đoàn và Hội sinh viên trong giáo dục đạo đức cho sinh viên. Với tư cách là tổ chức chính trị-xã hội của thanh niên Việt Nam nói chung, sinh viên nói riêng, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh đã tạo môi trường đưa thanh niên vào các hoạt động giúp học tập rèn luyện và phát triển nhân cách, năng lực của người lao động mới phù hợp với yêu cầu của xã hội hiện nay. Tổ chức Đoàn và Hội Sinh viên các trường cần phát huy vai trò của mình trong tổ chức các hoạt động trải nghiệm cho sinh viên, qua đó giáo dục, bồi dưỡng toàn diện cho sinh viên, hướng họ đến những việc làm tích cực và tránh xa các tệ nạn xã hội góp phần hình thành một thế hệ thanh niên Việt Nam luôn phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Hai là, thường xuyên đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục đạo đức Học tập ở bậc đại học, cao đẳng là học một chuyên ngành gắn với nghề nghiệp tương lai. Đây cũng là giai đoạn sinh viên phát triển và hoàn thiện TẠP CHÍ GIÁO DỤC LÝ LUẬN - SỐ 308 6/2020 tính cách, có sự phát triển tích cực nhất về tình cảm, đạo đức và thẩm mỹ. Do đó, nội dung giáo dục đạo đức cũng phải có sự đổi mới so với các giai đoạn trước đó. Cùng với đào tạo về trình độ chuyên môn cao, mỗi nhà trường cần tăng cường giáo dục đạo đức cho họ, đặc biệt là giáo dục tinh thần yêu nước cho sinh viên. Nhà trường cần thường xuyên quan tâm bồi dưỡng cho sinh viên những tình cảm cao đẹp về tình yêu quê hương, đất nước “mình vì mọi người, mọi người vì mình”, “thương người như thể thương thân”, “quên mình vì nghĩa lớn”… Từ đó, hình thành cho họ lối sống trong sạch, lành mạnh, những hành vi đạo đức trong sáng phù hợp với các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và thời đại. Nhà trường cần quan tâm hình thành cho sinh viên nhu cầu, động cơ phấn đấu, rèn luyện đúng đắn, làm cho mỗi người có ý thức làm chủ, ham học hỏi, cầu tiến bộ, vươn lên tự khẳng định mình; tạo mọi điều kiện thuận lợi để học sinh, sinh viên phấn đấu, rèn luyện; đồng thời phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả, định hướng phấn đấu cho sinh viên; quan tâm đáp ứng những nhu cầu chính đáng của sinh viên về vật chất, tinh thần; giao nhiệm vụ phù hợp với sở trường, năng khiếu đặc điểm tâm, sinh lý của họ đồng thời tạo điều kiện tốt để thanh niên rèn luyện đạo đức, lối sống. Cùng với đó, mỗi nhà trường cần thường xuyên lấy tấm gương người tốt, việc tốt để giáo dục sinh viên; trong đó mỗi thầy cô giáo phải thực sự là tấm gương sáng về đạo đức để sinh viên học tập, noi theo. Ba là, xây dựng các bộ quy tắc ứng xử tại trường học đối với sinh viên và giáo viên Xây dựng bộ quy tắc ứng xử trong các nhà trường sẽ giúp cho sinh viên có môi trường thuận lợi để rèn luyện, hình thành các hành vi ứng xử, hành vi đạo đức đúng chuẩn mực trong quan hệ với thầy cô, bạn bè từ đó hình thành nhu cầu và thói quen thực hành các hành vi đạo đức; có tinh thần tập thể, không ngừng nỗ lực học tập phấn đấu vì ngày mai lập thân, lập nghiệp. Các bộ quy tắc ứng xử trong trường học với những quy định cụ thể đối với cả cán bộ, giáo viên và sinh viên của nhà trường mang tính bắt buộc trở thành căn cứ quan trọng để đánh giá, xếp loại điểm rèn luyện của sinh viên được ghi trên bảng điểm khi tốt nghiệp sẽ giúp sinh viên có ý thức chủ động, tự giác thực hiện. Bốn là, phát huy tính chủ động của sinh viên trong thường xuyên tu dưỡng đạo đức Sinh viên là những người đang trong thời kỳ phấn đấu lập thân, lập nghiệp. Ở mỗi con người khi cần và thiếu cái gì họ sẽ đề cao và mong muốn đạt được những cái còn thiếu đó. Đối với sinh viên cũng vậy, cái họ dễ nhìn thấy và mong muốn phấn đấu là công việc sau khi ra trường, là sự nghiệp lâu dài. Chính vì thế, nhiều sinh viên dễ nảy sinh những quan niệm lệch lạc, coi thường các giá trị tinh thần, trong đó có các giá trị đạo TẠP CHÍ GIÁO DỤC LÝ LUẬN - SỐ 308 6/2020 đức. Do đó, bên cạnh sự giáo dục của nhà trường, gia đình mỗi sinh viên cần nhận thức tầm quan trọng của tự tu dưỡng đạo đức. Đó là hành trang, là phẩm chất mà mỗi người không thể thiếu trong cuộc sống. Tu dưỡng đạo đức của mỗi sinh viên phải là sự tự nguyện, tự giác. Sự hoàn thiện về đạo đức không chỉ ở nhận thức mà còn ở thái độ, tình cảm đạo đức đúng mực, lời nói và việc làm phải thống nhất, “nói phải đi đôi với làm”. Đạo đức không phải tự nhiên sẵn có, mà được hình thành, phát triển trong suốt cả quá trình giáo dục và tự giáo dục công phu, gian khổ chính vì vậy cần giáo dục cho sinh viên có được ý thức tu dưỡng đạo đức suốt đời. Mỗi học sinh, sinh viên phải xác định rõ trách nhiệm trước Tổ quốc và nhân dân, sống có lý tưởng, có hoài bão, khát khao vươn tới cái mới, cái tiến bộ. Bản thân mỗi người tự giác rèn luyện, biết tự kiềm chế, biết vượt qua những cám dỗ và tiêu cực xã hội, những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, thực dụng, lợi mình hại người. Gia đình, nhà trường và xã hội cần cổ vũ, định hướng sinh viên trong tu dưỡng, rèn luyện đạo đức. Đồng thời, mỗi sinh viên cần nghiêm túc đánh giá đúng vai trò của những giá trị tinh thần, trong đó có đạo đức đối với sự hoàn thiện của bản thân. Trước những tác động của tình hình kinh tế - xã hội, tăng cường giáo dục đạo đức của sinh viên càng trở nên quan trọng nhằm bồi dưỡng họ trở thành những công dân hoàn thiện về phẩm chất và năng lực. Thực hiện đồng bộ các giải pháp trên là điều kiện thiết yếu để mỗi sinh viên hoàn thiện đạo đức, từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo của các nhà trường hiện nay. ResearchGate has not been able to resolve any citations for this has not been able to resolve any references for this publication.
sinh viên việt nam hiện nay